Chương 1, 3 (mục 1) 2. TRAN THI BAO ANH Chuong 5 3. HOANG MINH CHIEN Chuong 7 4. LUU HUONG LY Chương 2, 3 (mục 2) 5.
DOAN TỬ TÍCH PHUGC Chương 6 6. NGUYÊN NGỌC SƠN Chương 4 CHUONG 1 NHUNG VAN DE Li LUAN VE CANH TRANH VA PHAP LUAT CANH TRANH 1. KHAI QUAT VE CANH TRANH 1. Khai niém canh tranh Cạnh tranh là khái niệm rất rộng, xuất hiện trong hầu hết các lĩnh vực khác nhau của đời sông xã hội, từ cuộc sống sinh hoạt hằng ngày đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, thể thao.
và có khá nhiều định nghĩa, cách hiểu khác nhau về cạnh tranh. Theo cách hiểu phổ thông thể hiện trong Từ điển ngôn ngữ tiếng Anh, “competition” (cạnh tranh) là “zzộôí sự kiện hoặc một cuộc dua, theo đó các đối thủ ganh dua dé giành phan hơn hay ưu thé tuyệt đối về phía minh”. Theo Từ điển tiếng Việt, “cạnh tranh” là “cố gang giành phan hon, phan thắng về minh giữa những người, những tô chức hoạt động nhằm những lợi ich như nhau ”.?) Trong khoa học kinh tế, đến nay các nhà khoa học dường (1).Xem: CUTS - All About Competition Policy& Law For the advanced learner, 2000, page 1.Xem: Viện ngôn ngữ hoc, Tir điển tiếng Việt, Trung tâm từ điển hoc, Nxb. như chưa thoả mãn với bất cứ khái niệm nào về cạnh tranh.
Bởi lẽ, cạnh tranh là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế thị trường, ở mọi lĩnh vực, mọi giai đoạn của quá trình kinh doanh va gắn với mọi chủ thé kinh doanh đang hoạt động trên thị trường. Do đó, cạnh tranh được nhìn nhận ở nhiều góc độ khác nhau tuỳ thuộc vào ý định và hướng tiếp cận nghiên cứu của các nhà khoa học.” Với tư cách là động lực nội tại trong mỗi chủ thể kinh doanh, cuốn “Các hoạt động hạn chế cạnh tranh và hoạt động thương mại không lành mạnh” của Tổ chức thống nhất, tín thác vì người tiêu dùng (An Độ) đã diễn tả: “Cạnh tranh trên thị trường là quá trình ở đó nhà cung cấp cô gang ganh dua dé giành khách hang bằng các phương thức, biện pháp khác nhau ”.° Theo Từ điển kinh doanh, xuất bản ở Anh năm 1992 thì "cạnh tranh" được hiểu là "sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một loại tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình". Từ điển tiếng Việt Bách khoa tri thức phô thông cũng giải thích cạnh tranh theo nghĩa kinh tế là: Hoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.Xem: Trường đại học kinh tế-luật, Đại học quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, Giáo trình luật cạnh tranh, 2010, tr.Xem: CUTS Centre for Competition, Investment & Economic Regulation, Restrictive and Unfair Trade Practices, 2003, page 5. 6 Mặc dù được nhìn nhận dưới các góc độ khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về cạnh tranh song nhìn chung theo các cách giải thích trên, trong khoa học kinh tế cạnh tranh được hiểu là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường nhằm mục đích lôi kéo về phía mình ngày càng nhiều khách hàng.
Cạnh tranh có thể xuất hiện giữa những người bán hàng và cũng có thể xuất hiện giữa những người mua hàng nhưng cạnh tranh giữa những người bán hàng là phô biến. Dưới giác độ kinh tế, cạnh tranh có bản chất sau: - Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường dé giành giật khách hang Trong kinh tế học, thị trường được xác định là cơ chế trao đổi đưa người mua và người bán của một loại hàng hoá hay dịch vụ đến với nhau. Đó đơn giản là giao dịch chứ không phải là địa điểm như mọi người thường nghĩ, nó hình thành khi người mua đồng ý trả một mức giá cho sản phẩm mà nhà cung cấp bán ra. Trên thị trường, giữa khách hàng và nhà cung cấp, luôn luôn thể hiện nhu cầu, lợi ích khác nhau.
Khách hàng mong muốn mua được sản phâm phù hợp nhất với giá rẻ nhất có thé, trong khi đó, nhà cung cấp mong muốn bán được sản phẩm càng nhanh càng tốt dé đầu tư phát triển sản xuất thu được nhiều lợi nhuận. Khuynh hướng này là nguồn gốc tạo ra sự cạnh tranh, sự ganh đua giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường để lôi kéo khách hàng về phía mình. Để ganh đua với nhau, các chủ thê kinh doanh phải sử dụng các phương thức, thủ đoạn kinh doanh được gọi là các hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp. Kết quả của cuộc cạnh tranh trên thị trường làm cho người chiến thắng mở rộng được thị phần, tăng lợi nhuận, kẻ thua cuộc mat khách hàng và phải rời khỏi thị trường.
Qua trình cạnh tranh, ganh đua buộc các chủ thé kinh doanh phải xem xét lại mình để làm sao sử dụng tất cả các nguồn lực một cách hiệu quả. Chủ thé của cạnh tranh là các tô chức, cá nhân kinh doanh có tư cách pháp lí độc lập. Cạnh tranh chỉ diễn ra khi có sự ganh đua của ít nhất hai chủ thê trở lên và là đối thủ của nhau. Nếu không có đối thủ hay nói cách khác là tồn tại tình trạng độc quyền thì cạnh tranh không thê diễn ra.
- Qua trình cạnh tranh giữa các đối thủ diễn ra trên thị trường Các chủ thé kinh doanh khi tham gia vào thị trường luôn ganh đua nhau, giành cơ hội tốt nhất dé mở rộng thị trường. Tuy nhiên, cạnh tranh thường chỉ diễn ra giữa các doanh nghiệp có chung lợi ích như cùng tìm kiếm nguồn nguyên liệu đầu vào giống nhau hoặc cùng tìm kiếm thị trường để bán những sản phẩm tương tự nhau. Điều đó làm cho các doanh nghiệp có chung lợi ích tranh giành trở thành đối thủ của nhau. Chúng ta khó có thé thấy có sự cạnh tranh giữa một doanh nghiệp sản xuất xi măng với một doanh nghiệp kinh doanh đồ ăn uống hoặc cũng khó có cạnh tranh giữa hai nhà sản xuất quần áo ở hai quốc gia chưa hề có quan hệ thương mại.
Bởi vậy, lí thuyết cạnh tranh xác định sự ton tại của cạnh tranh giữa các chủ thể kinh doanh khi chúng là đối thủ của nhau và sự cạnh tranh, ganh đua giữa các đối thủ đó được thé hiện trên thi trường. Đặc biệt, đối với nhiều hành vi hạn chế cạnh tranh, để xác định có hành vi này xảy ra hay không thì phải xác định chu thé thực hiện hành vi đó hoạt động trên thị trường liên quan nào và những ai là đối thủ cạnh tranh của nó. Theo pháp luật của các nước trên thế giới và theo Luật cạnh tranh của Việt Nam thì thị trường liên quan là thị trường của tất cả các sản phẩm hay dich vụ có thê thay thé cho nhau trong khu vực địa lí riêng biệt nhất định. - Cạnh tranh chỉ xuất hiện và tôn tại trong điều kiện của cơ chế thị trường Cạnh tranh là hoạt động nhăm tranh giành thị trường, lôi kéo khách hàng về phía mình của các chủ thé kinh doanh nên cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong cơ chế thị trường khi mà công dân có quyền tự do kinh doanh, tự do thành lập doanh nghiệp, tự do tìm kiếm cơ hội để phát triển sản xuất kinh doanh.
Trong thời kì phong kiến, nhà nước phong kiến luôn chủ trương hình thành và phát triển các phường, hội, các công xã nông thôn mang tính khép kín, tự cung tự cấp, do đó cạnh tranh không có điều kiện dé tồn tại. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung - nơi mà nhà nước là nhà đầu tư duy nhất năm quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế nên không thé nói đến kinh tế thị trường, không thé tồn tại quyền tự do kinh doanh của cá nhân, do đó cạnh tranh cũng không thể ton tại với tính chất là sự ganh đua kinh tế giữa các đối thủ hoạt động trên cùng thị trường. Trong khoa học pháp lí, các nhà nghiên cứu cũng rất khó có thé đưa ra khái niệm chuẩn chung cho hiện tượng cạnh tranh với tư cách là mục tiêu điều chỉnh của pháp luật. Trong nền kinh tế thị trường, các chủ thé kinh doanh tự do cạnh tranh, tự do sáng tạo ra các phương thức để ganh đua giành phần thắng về phía mình, do đó khái niệm cạnh tranh được pháp luật của rất ít nước định nghĩa.
Trong cuốn “Tài liệu tham khảo luật về cạnh tranh và chống độc quyền của một số nước và vùng lãnh thổ trên thế giới” do Bộ Thương mại ấn hành năm 2001 phục vụ cho việc xây dựng Luật cạnh tranh của Việt Nam có giới thiệu luật về cạnh tranh của 9 nước và vùng lãnh thổ trong đó chỉ có Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ và Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan đưa ra khái niệm cạnh tranh. Điều 3 Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ quy định: Cạnh tranh có nghĩa là sự ganh đua giữa các doanh nghiệp trên thị trường hàng hoá, dịch vụ để quyết định các vấn đề kinh tế một cách độc lập. Điều 4 Luật thương mại lành mạnh của Đài Loan quy định: “Cạnh tranh” là từ chỉ những hành động theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp đưa ra thị trường mức giá, số lượng, chất lượng, dịch vụ ưu đãi hơn hoặc những điều kiện khác nhằm giành cơ hội kinh doanh. Khái niệm về cạnh tranh theo quy định tại Luật cạnh tranh của Thổ Nhĩ Kỳ và Hàn Quốc có thê thấy tương tự cách hiểu về cạnh tranh đưới giác độ kinh tế đã được trình bày ở phần trên.
Luật cạnh tranh của Việt Nam ban hành năm 2004 cũng như luật về cạnh tranh của nhiều nước trên thế giới (Trung 10 Quốc, Hàn Quốc, Bungari, Nhật Ban.), tuy đều không đưa ra khái niệm cạnh tranh nhưng bao gồm các quy phạm nhằm tạo lập và duy trì môi trường kinh doanh bình dang, đảm bảo sự ganh đua giữa các chủ thé kinh doanh diễn ra theo trật tự và trong khuôn khổ được pháp luật quy định. Các hình thức cạnh tranh Dé phục vụ cho công tác nghiên cứu hoặc xây dựng chính sách cạnh tranh, các nhà kinh tế cũng như các luật gia đưa ra nhiều cách phân loại cạnh tranh khác nhau. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của nhà nước vào đời song kinh té, cạnh tranh được chia thành cạnh tranh tự do và cạnh tranh có sự điều tiết của nhà nước 1. Cạnh tranh tự do Cạnh tranh tự do là hình thức cạnh tranh thoát khỏi mọi sự can thiệp của nhà nước.