chương 1 68 Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM 70 2. Các quy định về Ban quản lý khu công nghiệp 70 2. Các quy định về doanh nghiệp trong khu công nghiệp 85 2.3, Các quy định pháp lý đặc thù cho khu công nghiệp 100 2.
Các quy định về quản lý nhà nước đối với khu công nghiệp 123 2. Thực tiễn thi hành pháp luật về khu công nghiệp ở Việt Nam. -\ 135 Kết luận chương 2 145 Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ KHU CÔNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 147 3.
Những yêu cầu đối với việc hoàn thiện pháp luật về khu công nghiệp trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế. Phương hướng hoàn thiện pháp luật về khu công nghiệp. Các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về khu công nghiệp. 168 Kết luận chương 3 183 KẾT LUẬN 184 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 186 LỜI NÓI ĐẦU 1.
Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài. Với những ưu điểm nổi trội của mô hình KCN trong công cuộc CNH, HĐI đất nước, các KCN ở Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ trong thời gian qua. Nan 1991, KCX Tân Thuận là KCX đầu tiên được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh. Đến tháng 9-2008 cả nước đã có 194 KCN được thành lập trên tổng diện tích 46.
Các KCN đã thu hút được trên 3.300 dự án DTNN với tổng số vốn đăng ky đạt 39,3 ty USD va 3.400 dự án DTTN với tổng số vốn đăng ký là 250.000 tỷ đồng [40, tr. Các KCN đã đóng góp to lớn cho sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước qua việc: a) Phát huy hiệu quả của sự tập trung nguồn lực cho sản xuất, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư; b) Thúc đẩy công nghiệp phát triển, tăng GDP, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp; c) Góp phần giải quyết một số vấn đề bức xúc của xã hội như giải quyết việc làm, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền trong cả nước; d) Tạo nên môi trường sản xuất công nghiệp tiên tiến, có điều kiện để các doanh nghiệp Việt Nam học tập kinh nghiệm sản xuất và quản lý của các nền kinh tế phát triển trên thế giới; e) Góp phần bảo vệ môi trường sống, bảo đảm phát triển bền vững. Tuy nhiên, nếu thiếu một sự điều tiết hợp lý, việc phát triển các KCN cũng có thể dẫn tới những hệ quả kinh tế - xã hội tiêu cực, như: a) Lãng phí lớn về tài nguyên, đất đai và vốn đầu tư, nhất là vốn đầu tư của Nhà nước, nếu như không thu hút được đầu tư, không lấp đầy được các KCN; b) Môi trường sẽ bị xuống cấp nếu phát triển các KCN mà không quan tâm đến các tiêu chí bảo vệ môi trường; c) An ninh lương thực quốc gia bị đe doạ nếu không chú ý quy hoạch phát triển KCN. Pháp luật về KCN ở Việt Nam thời gian qua đã được Nhà nước xây dung từng bước và hoàn thiện thường xuyên để đáp ứng đòi hỏi thực tế phát triển của các KCN.
Tuy nhiên, trong quá trình thành lập, hoạt động của các KCN còn nảy sinh một số bất cập về pháp lý làm hạn chế sự phát triển và hiệu quả hoạt động 4 của KCN. Những bất cập về mặt pháp lý là: a) Bất cập trong quy định về cơ chế quản lý và cơ quan quản lý các KCN; b) Bất cập trong các quy định pháp lý về công ty kinh doanh hạ tang KCN; c) Bất cập trong các quy định đặc thù về địa vị piháp lý của doanh nghiệp trong KCN; d) Bất hợp lý trong các quy định pháp lý vé xuất khẩu, nhập khẩu, về chế độ kế toán thống kê, về sử dụng lao động của các doanh nghiệp trong KCN. Những bất cập này cần phải được nhận biết một cách day đủ, kịp thời và cần có giải pháp khắc phục ngay để tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển mạnh mẽ các KCN. Từ năm 2000 đến nay, nước ta hội nhập ngày càng sâu, rộng vào nền kinh tế quốc tế.
Hội nhập kinh tế đòi hỏi Việt Nam phải cải cách mạnh mẽ, sâu rộng hơn nữa hệ thống pháp lý. Xuất phát từ những đòi hỏi thực tế trong quá trình thành lập, hoạt động và phát triển của các KCN, từ những bất cập về mặt pháp lý cũng như những đòi hỏi mới của quá trình tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, pháp luật về KCN ở Việt Nam cần phải được nghiên cứu và hoàn thiện nhằm hoàn thiện môi trường pháp lý, chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư, đóng góp thiết thực vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người lao động cũng như của Nhà nước, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước đối với các KCN, phù hợp với luật lệ và các quy định pháp lý của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển. Để góp phần vào việc nghiên cứu và đề xuất các phưng hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp lý điều chỉnh việc tổ chức và quản lý các KCN ở Việt Nam, NCS đã chọn vấn đề “Pháp luật về khu công nghiệp ở Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế” làm đề tài luận án tiến sĩ Luật hoc của mình. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Đến nay, pháp luật về KCN ở Việt Nam vẫn còn là một vấn đề mới. Chưa có những công trình lớn nghiên cứu pháp luật KCN, mà mới chỉ có một số công trình nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của KCN dưới góc độ kinh tế. Một số bài viết mới dừng lại ở việc mô tả luật thực định về KCN, chưa có công trình nghiên cứu so sánh luật về KCN, đặc biệt là chưa có công trình đánh giá thực tiễn về 5 pháp luật KCN. Có một số bài viết được dang tải trên tạp chí “Thong tin khu công nghiệp Việt Nam” của các tác giả, đa phần là cán bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Một số bài viết khác đăng tải trên các tạp chí như “Đầu tư”, “Nghiên cứu kinh tế”, “Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài” cũng chỉ đề cập đến hoạt động và phát triển của các KCN. Một số tác giả nước ngoài cũng đã có một số công trình nghiên cứu về KCN; tuy nhiên các công trình này chủ yếu là nêu các kinh nghiệm tổ chức, hoạt động của KCN. Năm 2002 tác giả đã bảo vệ luận văn Thạc sĩ với đề tài "Chế độ pháp lý về KCN, KCX -Thuc trang và phương hướng hoàn thiện”. Nhưng luận văn nay mới chỉ chủ yếu tập trung nghiên cứu chính sách và pháp luật đối với các doanh nghiệp trong KCN, KCX.
Hiện nay, việc phát triển các KCN đang gia tăng mạnh mé, hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam ngày càng có những đòi hỏi bức xúc, những bất cập về pháp lý ngày càng bộc lộ rõ. Cần phải có những thay đổi để đáp ứng được yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế và để phát triển mạnh mẽ các KCN theo đúng tiềm nang và ưu thế vốn có của nó. Trong số các luận án tiến sĩ Luật học đã được bảo vệ và công bố, cho tới nay vẫn chưa có luận án nào nghiên cứu pháp luật về KCN một cách toàn điện va đáy đủ. Pham vi nghiên cứu của luận án.
Luận án nghiên cứu các cơ sở lý luận, những căn cứ pháp lý cho việc tổ chức, quản lý nhà nước đối với các KCN ở Việt Nam. Trên cơ sở khảo sát và đánh giá thực tiễn áp dung các quy định pháp luật về KCN hơn 17 năm qua, luin án chỉ ra một số khiếm khuyết, bất cập và đề xuất các phương hướng, giải pháp nhằm tháo gỡ các vướng mắc, hoàn thiện các quy định pháp lý về KCN, dép ứng yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong điều kiện HNKTQT. Cụ thể, luận án lựa chọn và dé cập tới những nội dung nghiên cứu cụ thể dudi đây: - Vai trò và tầm quan trọng của KCN đối với sự nghiệp CNH, HĐH của Việt Nam. - Cơ chế tổ chức và quản lý KCN ở Việt Nam bằng pháp luật.
6 - Nghiên cứu các kinh nghiệm quốc tế về xây dựng và hoàn thiện pháp luật về KCN. - Nghiên cứu các quy định pháp ly về tổ chức, quan lý các KCN. - Nghiên cứu dia vi pháp ly của các doanh nghiệp trong KCN. - Nghiên cứu cơ chế quản lý nhà nước đối với KCN.
- Nghiên cứu thực trạng thi hành pháp luật về KCN. - Nghiên cứu phương hướng và giải pháp xây dựng, hoàn thiện pháp luật về KCN. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài Luận án được thực hiện nhằm mục đích nêu ra những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về KCN trong bối cảnh nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế. Để thực hiện mục đích trên, luận án giải quyết các nhiệm vụ cu thể sau: 1) Nghiên cứu những vấn đề lý luận về tổ chức và quản lý KCN bằng pháp luật; 2) Đánh giá, nhận xét kinh nghiệm của một số nước trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về KCN; 3) Nghiên cứu thực trạng pháp luật về KCN, chỉ ra những ưu điểm, thành công cũng như những bất cập trong các quy định về tổ chức và quản lý KCN; 4) Đánh giá, nhận định về việc thi hành các quy định pháp luật về KCN trên thực tế; 5) Nêu ra những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về KCN.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Phương pháp luận được sử dụng khi nghiên cứu đề tài luận án là biện chứng duy vật. Luận án cũng thể hiện việc nắm vững quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về mở cửa, hội nhập kinh tế quốc tế trong nền kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng XHCN ở nước ta. Tác giả luận án đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể khi nghiên cứu đề tài, như: phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh. Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, luận án làm sáng tỏ các khái niệm, đưa ra những nhận xét, đánh giá về những ưu điểm, thành công cũng như những khiếm khuyết, hạn 7 cihế trong các quy định pháp lý về tổ chức và quản ly KCN.