phần mở đầu và kết thúc. + Bản sao expedition: là ban sao cũng được cấp sao từ bản gốc của văn bản công chứng. Điểm khác của bản sao này so với bản sao executoire là nó không có phần mo đầu và kết luận do đó hiệu lực của nó thấp hơn. Tuy nhiên trong trường hợp công chứng viên không thể cấp bản sao executoire cho đương sự thì có thể cấp bản sao expedition thay thế với số lượng không hạn chế va bản sao này cũng có thể được dùng để doi nợ.
| Hình thức văn bản công chứng (hình thức cấu trúc và hình thức pháp lý) theo pháp luật về công chứng của chúng ta thấy rằng vấn đề này hầu như cũng chưa được quan tâm đến. Trong Thông tư 1411/TT-C C tại mục IV tuy lấy tiêu đề hình thức văn bản công chứng nhưng thực tế nội dung của mục này không hề đề cập đến hình thúc pháp lý và hình thức cấu trúc của văn bản công chứng. Vậy vấn đề này đang được giải quyết như thế nào trong thực tế. Về hình thức pháp lý của văn bản công chứng.
Mặc dù Nghị định 31/CP không qui định trực tiếp hình thức pháp lý của văn bản công chứng nhưng từ các qui định của Nghị định này ta có thể suy luận hiện nay có hai loại hình thức pháp lý văn bản công chứng, đó là bản chính văn bản công chứng và bản sao văn bản công chứng. Bản chính văn bản công chứng là tất cả những văn bản, hợp đồng, giấy tờ được lập ra và có chứng nhận của Phòng công chứng Nhà nước hoặc của Uỷ ban nhân dân cấp có thẩm quyền theo qui định của pháp luật. Bản chính văn bản công chứng được lập ra với số lượng theo yêu cầu của đương sự tuy nhiên hiện nay có một số trường hợp bị hạn chế số lượng bản chính, Ví dụ: theo qui định của Thông tư 01 ngày 3/7/1996 của liên ngành Tư pháp - Tài chính- Ngân hàng Nhà nước thì bản chính văn bản công chứng về hợp đồng thế chấp, cầm cố tài sản của doanh nghiệp Nhà nước để vay vốn ngân hàng được lập thành 04 bản. Trong những trường hợp được qui định hạn chế số lượng bản chính văn bản công chứng như trên đều chỉ rõ những cá nhân và cơ quan nào được cầm giữ bản chính.
Trong mọi trường hợp có hạn chế hay không hạn chế số lượng bản chính văn bản công chứng thì bao giờ cơ quan công chứng cũng lưu giữ | một bản chính. Nói đến khái niệm bản chính cũng cần lưu ý trường hợp bản chính không phải là văn bản công chứng. Ví dụ bản chính có thể là văn bản, văn bằng, chứng chỉ,.do cơ quan khác lập ra nhưng cơ quan công chứng lại từ đó cấp bản sao công chứng cho đương sự. Trong trường hợp này bản chính không phải là văn bản công chứng nhưng bản sao lại được coi là văn bản công chứng theo cách quan niệm nêu trên.
20 Ban sao công chứng theo các qui định của Nghị định 31/CP và Thông tư 1411-TT/CC thi có thể suy luận ra rằng ban sao công chứng là bản được sao chụp hoặc sao chép toàn văn bản chính có chứng nhận của Phòng công chứng Nhà nước hoặc chứng thực của Uy ban nhân dân cấp huyện hoặc của cơ quan đại diện ngoại giao hoặc lãnh sự của nước ta ỏ nước ngoài. Đặc điểm của bản sao công chứng là phải được sao trực tiếp từ bản chính. Vì vậy lời chứng nhận của cơ quan công chứng văn bản sao là "sao y bản chính”. Trong mọi trường hợp cơ quan công chứng không được phép lập bản sao từ bản sao, dù đó là bản sao từ bản chính.
Vấn đề hình thức cấu trúc của văn bản công chứng cũng chưa được pháp luật Việt Nam qui định thống nhất. Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng làm cho hoạt động công chứng thiếu thống nhất, chậm đi vào nền nếp.2- Giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Vấn đề giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở Việt Nam hiện nay đang còn là vấn đẻ tranh luận cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn. Về mặt lý luận chúng ta hầu như chưa có dù chỉ là một bài báo hay trang sách giáo khoa nào bàn về vấn đề này.
Về mặt thực tiễn tình hình'cũng không khá hơn mấy, mặc dù Nghị định 31/CP ngay tại Điều | có khẳng định các hợp đồng và giấy tờ được Phòng công chứng Nhà nước chứng nhận hoặc Uỷ ban nhân dân có thẩm quyền chứng thực có gía trị chứng cứ, trừ trường hợp bị Toà án nhân dân tuyên bố là vô hiệu. Nhưng theo chúng tôi sự khẳng định này của Nghị định 31/CP không đem lại cho văn bản công chứng một giá trị đặc biệt nào khác. Trong thực tế áp dụng pháp luật có thể nói là khá tuỳ tiện trong việc đánh giá giá trị pháp lý của văn bản công chứng. Bởi vì nó phụ thuộc vào sự chấp nhận của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.
Điều đó cũng có nghĩa rằng nếu nội dung của văn bản công chứng có lợi cho cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng phápluật trong trường hợp cụ thể nào đó thì họ thừa nhận giá trị chứng cứ của văn bản đó, trong trường hợp ngược lại thì sẽ không được chấp nhận. Chúng tôi cho rằng chừng nào mà gia trị pháp lý của van bản công, 21 chứng chưa được khang định rõ ràng dứt khoát bằng các qui phạm của pháp luật thực định (trước hết là trong luật tố tụng hình sự, luật dân sự, wv .) thì chưa thể nói là toàn bộ hoạt động của hệ thống công chứng có được cơ sở pháp lý đầy đủ và vững chắc. Vì vậy việc khẳng định giá trị pháp lý của văn bản công chứng là một trong những vấn đề then chốt của việc hoàn thiện pháp luật về công chứng ở nước ta hiện nay. Trước khi dé cập trực tiếp về vấn dé giá trị pháp lý của văn bản công chứng ở Việt Nam, chúng ta cần làm rõ một số vấn dé có tính chất phương pháp luận sau: giá trị chứng cứ và giá trị thi hành của văn bản công chứng.
Về giá trị pháp lý của văn bản công chứng. + Giá trị chứng cứ của văn bản công chứng. Khái niệm chứng cứ là một trong những khái niệm cơ bản của các ngành luật về tố tụng. Trong khoa học pháp lý cũng như luật thực định của mỗi quốc gia có thể có những quan niệm khác nhau về chứng cứ.
Do đặc điểm riêng hệ thống luật Anglo xaxon coi trọng nhân chứng, còn hệ thống luật thành văn coi trọng vật chứng. Tuy nhiên dù là nhân chứng hay vật chứng chung qui lại cũng đều là chứng cứ và có những điểm chung thuộc về bản chất của chứng cứ. Về mặt thực tiễn chúng ta thấy rằng, chứng cứ luôn là vấn đề mấu chốt của mọi sự tranh chấp. Để có thể khẳng định tình trạng của một người cần thiết phải có những bằng chứng để chứng minh sự tồn tại của quyền hay tình trạng đó; nếu không sẽ bị coi là không có nó.
Trong tố tụng tư pháp, thẩm phán gần như giữ vai trò trung lập, vai trò chủ yếu thực sự thuộc về các bên nguyên đơn và bị đơn theo luật tố tụng. Trong thực tế không phải bao giờ các bên tranh chấp cũng có thể xuất trình được những chứng cứ trực tiếp. Khi có những sự kiện pháp lý khó xác định thì luật pháp sẽ không tính đến chứng cứ trực tiếp của sự kiện đó mà cho phép suy đoán nó từ những sự kiện khác được chỉ ra một cách dé dàng hon. Dĩ nhiên trong những trường hợp suy đoán như vậy tính đích thực của sự kiện we) pháp lý được suy đoán sẽ giảm di dang kể.
Vì vậy chứng cứ trực tiếp bao giờ cũng tin cậy hơn sự suy đoán. Trong phân loại chứng cứ người ta thường phân ra chứng cứ viết và chứng cứ bằng lời nói. Chứng cứ bằng lời nói thường bị sử dụng hạn chế, chỉ trong những trường hợp chứng cứ viết không có hoặc không đầy đủ bởi nó có thể không khách quan do trí nhớ của nhân chứng hoặc do nhân chứng không trung thực. Chính vì vậy mà pháp luật của mọi quốc gia đều có những quy định theo hướng mọi giao dịch có tính chất quan trọng đều phải lập thành văn bản.
Khác với chứng cứ miệng, chứng cứ viết có tính khách quan nhiều hơn. Chứng cứ viết được phân thành hai loại: công chứng thư và tư chứng thư. Tư chứng thư là văn bản do các bên tự lập ra (có thể có người làm chứng) và không theo thể thức bắt buộc vì vậy giá trị pháp lý của tư chứng thư không cao bằng công chứng thư. Pháp luật của các nước đều có các quy định thể hiện rõ điều đó.
Do đặc điểm, tính chất của tư chứng thư như đã nêu trên nên theo pháp luật của nước Pháp, tu chứng thư không có hiệu lực bắt buộc thi hành. Trong trường hợp đương sự xuất trình tư chứng thư trước toà án với tư cách là chứng cứ thì thông thường người ta phải điều tra xác định xem chứng thư đó có xác thực không? có là chứng cứ đáng tin cậy không? Hơn nữa khi làm tư chứng thư người ta có thể ghi ngày, tháng không chính xác. Vì vậy Điều 1328 Bộ luật dân sự nước Pháp quy định: tư chứng thư không đảm bảo ngày, tháng, năm chính xác đối với người thứ ba. Công chứng thư hay là văn bản mang tính chất công có tính chất như cơ quan công quyền lập ra.
Công chứng thư hơn hẳn tư chứng thư không những ở độ tin cậy, chính xác cao mà còn có giá trị bắt buộc thi hành và không thể bác bỏ. Văn bản công chứng là văn bản do công chứng viên lập ra theo những thể thức bắt buộc, nó ghi nhận một cách chính xác ý chí, nguyện vọng cũng như giao kết của các đương sự. Mặt khác nó cũng bảo đảm chính xác ngày, tháng, năm lập văn bản. Vì vậy theo luật của các nước theo hệ công chứng la-tin văn bản công chứng có giá trị như một công chứng thư, có giá trị pháp lý bắt buộc 23 thi hành không cần phải qua phán quyết của toà án một tu chứng thư.
Mặt khác khi một. văn bản công chứng được xuất trình trước toà án với tư cách là chứng cứ thì toà án nói chung không cần phải đánh giá lại tính xác thực của những điều đã được ghi trong văn bản đó mà mặc nhiên xem nó là chứng cứ. Câu hỏi được đặt ra là tại sao văn bản công chứng lại có được giá trị pháp lý cao như vậy?