Luận Văn: Quyền Tiếp Cận Thông Tin và Thực Thi tại Việt Nam - Khoa Luật ĐHQGHN

Luận văn quy định về quyền tiếp cận thông tin: Tìm hiểu quy định pháp luật, quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức. Cập nhật thông tin mới nhất về vấn đề này.

Trường đại học

Đại học Quốc Gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ Luật Học

2014

110
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các từ viết tắt

MỞ ĐẦU

1. Chương 1: QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN VỚI TƯ CÁCH LÀ MỘT QUYỀN CON NGƯỜI

1.1. Khái niệm, lịch sử hình thành, phát triển và tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin

1.1.1. Khái niệm về quyền tiếp cận thông tin

1.1.2. Lịch sử hình thành, phát triển của quyền tiếp cận thông tin

1.1.3. Tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin

1.2. Những nguyên tắc của quyền tiếp cận thông tin

1.2.1. Công khai tối đa

1.2.2. Thúc đẩy chính phủ mở

1.2.3. Phạm vi giới hạn các ngoại lệ

1.2.4. Các quy trình bảo đảm thuận lợi cho việc tiếp cận thông tin

1.2.5. Các cá nhân không thể phải trả một khoản phí quá cao để có thể yêu cầu tiếp cận thông tin

1.2.6. Các cuộc họp công khai

1.2.7. Sự công khai có vị trí ưu tiên

1.2.8. Bảo vệ những người cung cấp thông tin sai trái

1.3. Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin

1.3.1. Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở một số nước trên thế giới

1.3.2. Cơ chế bảo đảm quyền tiếp cập thông tin của các cơ quan Nhà nước Việt Nam

1.3.3. Cơ chế bảo đảm quyền tìm kiếm thông tin của các cơ quan Nhà nước ở Việt Nam

1.3.4. Khiếu nại và xử lý hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam

1.4. Mối quan hệ giữa quyền tiếp cận thông tin và quyền con người

1.5. Kết luận chương 1

2. Chương 2: PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN

2.1. Pháp luật quốc tế về quyền tiếp cận thông tin

2.1.1. Các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền tiếp cận thông tin

2.2. Pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của một số quốc gia

2.3. Pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin

2.3.1. Các chủ trương, chính sách của Đảng đảm bảo quyền tiếp cận thông tin

2.3.2. Hệ thống pháp luật Việt Nam về quyền tiếp cận thông tin

2.3.3. Phân tích, so sánh tính tương thích của pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế về quyền tiếp cận thông tin

2.4. Kết luận chương 2

3. Chương 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN TIẾP CẬN THÔNG TIN Ở VIỆT NAM

3.1. Thực trạng bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay

3.1.1. Những thành tựu bảo đảm và thúc đẩy quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay

3.1.2. Những bất cập, hạn chế trong việc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam hiện nay

3.2. Những giải pháp bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

3.2.1. Đổi mới tư duy và nhận thức trong hoạt động của cơ quan nhà nước

3.2.2. Hoàn thiện hệ thống pháp lý – tạo điều kiện bảo đảm quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam

3.2.3. Nâng cao nhận thức của công dân về quyền tiếp cận thông tin

3.2.4. Thực thi luật Tiếp cận thông tin cùng các giải pháp đồng bộ khác

3.2.5. Xây dựng và hoàn thiện Luật Tiếp cận Thông tin

3.3. Kết luận chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng Quan Quyền Tiếp Cận Thông Tin ở Việt Nam Tại Sao Quan Trọng

Thông tin đóng vai trò then chốt trong sự phát triển của xã hội. Nó thúc đẩy các cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật và xã hội. Trong hoạt động của nhà nước, việc hạn chế tiếp cận thông tin có thể dẫn đến lạm quyền và tham nhũng. Quyền tiếp cận thông tin không chỉ là nhu cầu mà còn là một quyền con người cơ bản, được quốc tế và nhiều quốc gia công nhận. Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và Điều 19 của Công ước Quốc tế về các quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 đều khẳng định quyền này. Ở Việt Nam, Quyền tiếp cận thông tin ở Việt Nam tuy được ghi nhận muộn, nhưng từng bước được thể chế hóa trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, việc thực thi quyền này còn nhiều bất cập, đòi hỏi sự hoàn thiện liên tục.Theo J.Madison, Tổng thống thứ tư của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ đã nói: “Một chính phủ của đại chúng mà không có thông tin rộng rãi hoặc không có phương tiện nào để có được những thông tin đó thì chỉ là giai đoạn mở đầu của một tấn hài kịch hoặc bi kịch, hay có thể là cả hai” [15, tr. Chiến dịch toàn cầu cho tự do ngôn luận đã mô tả thông tin như là “khí ôxy của chế độ dân chủ” [15, tr.

1.1. Quyền Công Dân và Tiếp Cận Thông Tin Mối Liên Hệ Chặt Chẽ

Quyền tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí và quyền được thông tin là những quyền con người đồng thời là những quyền công dân cơ bản. Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân và quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam là mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức để nhân dân tham gia ngày càng rộng rãi hơn vào công việc quản lý đất nước theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

1.2. Minh Bạch Hóa Thông Tin Yếu Tố Quan Trọng trong Phòng Chống Tham Nhũng

Thông tin bị hạn chế, hoạt động của các cơ quan công quyền thiếu minh bạch, công khai là mảnh đất màu mỡ phát sinh tiều cực, phát sinh tham nhũng. Trong công tác điều tra, phát hiện và xử lý tham nhũng, thông tin có vai trò quyết định. Việc có tồn tại hành vi tham nhũng hay không phụ thuộc vào có yếu tố như: các hoạt động của các cơ quan công quyền công khai, minh bạch hoặc không; khả năng giám sát và tiếp cận thông tin về các hoạt động của các cơ quan này của người dân và các cơ quan truyền thông có dễ dàng hay không.

II. Thách Thức Thực Thi Quyền Tiếp Cận Thông Tin ở Việt Nam Hiện Nay

Mặc dù có những tiến bộ trong việc thể chế hóa quyền tiếp cận thông tin, việc thực thi quyền này ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Các quy định pháp luật còn thiếu đồng bộ, chưa có luật riêng về tiếp cận thông tin, và chế tài xử lý vi phạm còn yếu. Tình trạng sách nhiễu, gây khó dễ cho người dân khi yêu cầu cung cấp thông tin vẫn tồn tại. Việc lấy ý kiến người dân về các dự án luật đôi khi mang tính hình thức. Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, bao gồm hệ thống pháp luật chưa hoàn thiện và nhận thức về tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin chưa đầy đủ. Nhiều văn bản pháp luật, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước tuy có tính chất công khai nhưng thiếu minh bạch. Việc lấy ý kiến 3 đóng góp xây dựng của người dân hầu hết mang tính hình thức, không thực chất và không hiệu quả. Nhiều ý kiến đóng góp tâm huyết của người dân, doanh nghiệp, tổ chức về những dự án luật, những chủ trương, chính sách quan trọng không được phản hồi hoặc phản hồi không rõ ràng, đầy đủ.

2.1. Thiếu Tính Đồng Bộ trong Hệ Thống Pháp Luật về Tiếp Cận Thông Tin

Việc ghi nhận quyền này chưa được thể hiện bằng một đạo luật thống nhất, đầy đủ, chặt chẽ mà nằm rải rác tại nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Điều này dẫn đến việc thực hiện quyền này của người dân chưa đầy đủ. Các văn bản pháp luật trên đây gần như không quy định các chế tài xử lý các hành vi cản trở hay không cung cấp thông tin đối với các cán bộ, công chức, cơ quan, tổ chức công quyền khi có yêu cầu của người dân.

2.2. Hạn Chế trong Cơ Chế Tiếp Cận Thông Tin cho Người Dân

Thủ tục cung cấp thông tin phức tạp, phiền hà khiến cho việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân hết sức khó khăn. Những tồn tại trên đây có nguyên nhân chủ yếu do hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về quyền tiếp cận thông tin còn thiếu và yếu. Pháp luật chưa quy định một cách rõ ràng về các trường hợp được thông tin và hạn chế thông tin; về thẩm quyền cung cấp thông tin; trình tự thủ tục cung cấp thông tinh; chế tài xử lý những vi phạm liên quan đến quyền tiếp cận thông tin của người dân.

III. Luật Tiếp Cận Thông Tin Giải Pháp Đảm Bảo Quyền Công Dân

Việc ban hành Luật Tiếp Cận Thông Tin là một bước quan trọng để khắc phục những hạn chế hiện tại. Luật cần quy định rõ các trường hợp được phép tiếp cận thông tin, thẩm quyền cung cấp thông tin, trình tự thủ tục cung cấp, và chế tài xử lý vi phạm. Luật cũng cần tạo ra một cơ chế giám sát độc lập để đảm bảo việc thực thi quyền này một cách hiệu quả. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức của người dân và cán bộ công chức về tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc cung cấp thông tin. Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ Ba, Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí và Chiến lược phòng chống tham nhũng đến năm 2020 đã đề ra nhiệm vụ nghiên cứu và ban hành Luật đảm bảo quyền được thông tin của người dân, coi đây là một biện pháp quan trọng trong công tác phòng chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước.

3.1. Hoàn Thiện Khung Pháp Lý về Quyền Tiếp Cận Thông Tin

Pháp luật phải có quy định cụ thể, rõ ràng về những thông tin người dân được phép tiếp cận; cơ quan, tổ chức có trách nhiệm cung cấp thông tin; trình tự, thủ tục, thời hạn cung cấp thông tin và đặc biệt là chế tài xử lý những vi phạm liên quan đến việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của người dân như: gây khó khăn, không cung cấp thông tin cho người dân.mà không có lý do chính đáng trái với quy định của pháp luật.

3.2. Xây Dựng Cơ Chế Giám Sát Độc Lập Việc Thực Thi Quyền Tiếp Cận Thông Tin

Theo nguyên tắc thứ 5 của Bộ nguyên tắc của Liên Hợp quốc thì cần có hệ thống giám sát độc lập. Tuy nhiên, quyền khiếu nại, khiếu kiện và tái kiện của công dân sẽ được đảm bảo tùy theo hệ thống điều hành hay tư pháp theo quy định của pháp luật mỗi nước, miễn là đảm bảo tính độc lập của hệ thống này. Hệ thống giám sát độc lập này có chức năng nhận khiếu nại, khiếu kiện, điều tra và giải quyết tranh chấp khiếu nại.

3.3 Nâng Cao Nhận Thức Cộng Đồng Về Quyền Tiếp Cận Thông Tin

Người dân cần được giáo dục về quyền của họ trong việc tiếp cận thông tin, cũng như cách thức thực hiện quyền này. Các cơ quan nhà nước cũng cần được đào tạo để hiểu rõ trách nhiệm của họ trong việc cung cấp thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tiếp cận thông tin.

IV. Công Khai Minh Bạch Bí Quyết Hoạch Định Chính Sách Hiệu Quả

Quyền tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí và quyền được thông tin là những quyền con người đồng thời là những quyền công dân cơ bản – những hiến định vốn có của một xã hội dân chủ, đồng thời cũng là một chuẩn mực bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Quyền được thông tin là một trong những hình thức, phương thức, phương tiện để nhân dân làm chủ đất nước, thật sự tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội. Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân và quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam là mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức để nhân dân tham gia ngày càng rộng rãi hơn vào công việc quản lý đất nước theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

4.1. Tham Gia Của Người Dân trong Hoạch Định Chính Sách

Để thực hiện phương châm đó, trước hết người dân cần được thông tin, được cung cấp thông tin – những thông tin khách quan, trung thực, đầy đủ, không bị cắt xén, kịp thời. Trên cơ sở được biết thông tin, người dân mới bàn, đánh giá và kiến nghị lên các cơ quan nhà nước để hoàn thiện chính sách pháp luật. Không có thông tin phản hồi từ phía người dân, Nhà nước không đủ thông tin để có quyết định đúng, phù hợp với ý chí, lợi ích của nhân dân và khó có thể quản lý hiệu lực và hiệu quả.

4.2. Công Khai Dự Thảo Văn Bản Pháp Luật Tạo Điều Kiện Cho Đóng Góp Ý Kiến

Việc lấy ý kiến về các dự án luật tập trung vào nhiều đối tượng, trong đó đặc biệt chú trọng đến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản luật sẽ được ban hành. Việc công khai dự thảo văn bản trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là trên các trang thông tin điện tử, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp kịp thời nắm bắt được dự kiến những thay đổi về chính sách, pháp luật để đóng góp ý kiến xây dựng văn bản và chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện sau này.

V. Ứng Dụng Quyền Tiếp Cận Thông Tin Cải Cách Hành Chính

Trong hoạt động của các cơ quản lý hành chính nhà nước hàng ngày có rất nhiều lĩnh vực liên quan đến quyền và lợi ích thường nhật của người dân như: đất đai, xây dựng, quy hoạch, kinh doanh, chế độ an sinh xã hội. Việc được cung cấp đầy đủ thông tin về những lĩnh vực này là một nhu cầu chính đáng và cấp thiết của người dân. Các cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ công khai những thông tin do mình nắm giữ để phổ biến đến người dân thông qua nhiều hình thức khác nhau như: đáp ứng lại yêu cầu trực tiếp của người dân; niêm yết công khai tại trụ sở hay công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông.

5.1. Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo Khi Tiếp Cận Thông Tin Đầy Đủ

Một ví dụ thực tế ở nước ta trong những năm qua, sở dĩ phát sinh nhiều các cuộc khiếu kiện vượt cấp, kéo dài, đông người liên quan đến đất đai có nguyên nhân quan trọng là do người dân chưa được thông tin đầy đủ về các vấn đề như: quy hoạch, thu hồi đất, giá đất, hỗ trợ đền bù, giải phóng mặt bằng. Một mặt chính quyền, cán bộ có thẩm quyền ở nhiều địa phương vô tình hoặc cố ý bưng bít thông tin hoặc công bố thông tin nhỏ giọt; mặt khác, người dân, do không có được các kênh thông tin khác nên làm nảy sinh tiêu cực từ phía một số cán bộ có thẩm quyền, còn người dân thì phát sinh sự nghi ngờ, không tin tưởng vào các chính sách đất đai của chính quyền địa phương.

5.2. Tiếp Cận Thông Tin và Hiệu Quả Hoạt Động Tư Pháp

Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và giải đáp cho người dân hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật cũng là nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng. Để làm tốt công tác này, một mặt các cơ quan tư pháp phải có trách nhiệm sẵn sàng giải đáp và trả lời những thắc mắc, kiến nghị của người dân liên quan đến các quy định của pháp luật nếu họ yêu cầu trong quá trình các cơ quan này tiến hành các thủ tục tư pháp.

VI. Tương Lai Quyền Tiếp Cận Thông Tin ở Việt Nam Hướng Đến Dân Chủ

Quyền tiếp cận thông tin có mối quan hệ chặt chẽ và có tính chất tương hỗ sự tiến bộ của các quyền con người khác. Một số quyền con người sử dụng quyền tiếp cận thông tin làm phương tiện thực hiện quyền. Điều này được thể hiện rõ qua các quyền như: quyền tự do ngôn luận, quyền khiếu nại, tố cáo của…Công dân chỉ có thể thực hiện được quyền khiếu nại, tố cáo của mình một cách tốt nhất khi họ tiếp cận được thông tin về những chính sách, pháp luật của nhà nước, qua đó phát hiện được những sai phạm trong những hành vi của cơ quan, cán bộ nhà nước có thẩm quyền. Khi quyền tiếp cận thông tin bị vi phạm thì việc thực hiện các quyền này cũng bị ảnh hưởng.

6.1. Quyền Tiếp Cận Thông Tin Động Lực Thúc Đẩy Tiến Bộ Xã Hội

Quyền tiếp cận thông tin có mối quan hệ chặt chẽ và có tính chất tương hỗ sự tiến bộ của các quyền con người khác. Một số quyền con người sử dụng quyền tiếp cận thông tin làm phương tiện thực hiện quyền. Điều này được thể hiện rõ qua các quyền như: quyền tự do ngôn luận, quyền khiếu nại, tố cáo của…Công dân chỉ có thể thực hiện được quyền khiếu nại, tố cáo của mình một cách tốt nhất khi họ tiếp cận được thông tin về những chính sách, pháp luật của nhà nước.

6.2. Cần Một Chính Phủ Điện Tử Minh Bạch và Dễ Tiếp Cận

Chính phủ điện tử cần được xây dựng theo hướng công khai, minh bạch và dễ tiếp cận thông tin. Các dịch vụ công trực tuyến cần được thiết kế thân thiện với người dùng và cung cấp đầy đủ thông tin cần thiết. Đồng thời, cần đảm bảo an ninh mạng để bảo vệ thông tin cá nhân của người dân.

28/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu của một tấn hài kịch hoặc bi kịch, hay có thể là cả hai” [15, tr. Chiến dịch toàn cầu cho tự do ngôn luận đã mô tả thông tin như là “khí ôxy của chế độ dân chủ” [15, tr. Những viện dẫn trên đây cho thấy thông tin nói chung và quyền tiếp cận thông tin nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động của một Nhà nước. Một nhà nước phi dân chủ là một nhà nước mà ở đó người dân bị hạn chế, bị ngăn cản tiếp cận các thông tin thông thường, không liên quan đến các vấn đề an ninh quốc gia, đời tư cá nhân do các cơ quan, tổ chức công quyền nắm giữ.

Tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin của người dân trong một quốc gia được thể hiện trên nhiều lĩnh vực, phản ánh và đánh giá sự công khai, minh bạch và dân chủ của một Nhà nước. Tác giả đề tài này, dưới đây đề cập đến tầm quan trọng của quyền tiếp cận thông tin trong một số lĩnh vực sau: 1. Trong hoạch định chính sách và xây dựng pháp luật Quyền tự do tư tưởng, ngôn luận, báo chí và quyền được thông tin là những quyền con người đồng thời là những quyền công dân cơ bản – những hiến định vốn có của một xã hội dân chủ, đồng thời cũng là một chuẩn mực bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân. Quyền được thông tin là một trong những hình thức, phương thức, phương tiện để nhân dân làm chủ đất nước, thật sự tham gia vào quản lý nhà nước và xã hội.

Nhà nước Việt Nam là nhà nước của dân, do dân, vì dân và quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam là mở rộng dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tổ chức để nhân dân tham gia ngày càng rộng rãi hơn vào công việc quản lý đất nước theo phương châm: “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Để thực hiện phương châm đó, trước hết người dân cần được 15 thông tin, được cung cấp thông tin – những thông tin khách quan, trung thực, đầy đủ, không bị cắt xén, kịp thời. Trên cơ sở được biết thông tin, người dân mới bàn, đánh giá và kiến nghị lên các cơ quan nhà nước để hoàn thiện chính sách pháp luật. Không có thông tin phản hồi từ phía người dân, Nhà nước không đủ thông tin để có quyết định đúng, phù hợp với ý chí, lợi ích của nhân dân và khó có thể quản lý hiệu lực và hiệu quả.

Việc lấy ý kiến về các dự án luật tập trung vào nhiều đối tượng, trong đó đặc biệt chú trọng đến các đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của văn bản luật sẽ được ban hành. Việc công khai dự thảo văn bản trên các phương tiện thông tin đại chúng, nhất là trên các trang thông tin điện tử, đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp kịp thời nắm bắt được dự kiến những thay đổi về chính sách, pháp luật để đóng góp ý kiến xây dựng văn bản và chuẩn bị các điều kiện cho việc thực hiện sau này. Việc lấy ý kiến về các dự án luật ngày càng có hiệu quả, thể hiện tính dân chủ, sự thận trọng trong hoạt động lập pháp, huy động được trí tuệ, sự đồng thuận của nhân dân. Người dân có đầy đủ các nguồn thông tin giúp họ đóng vai trò chủ động hơn trong xã hội.

Người dân cũng tin tưởng hơn vào Nhà nước và sẵn sàng, chủ động đóng góp xây dựng, hoàn thiện chính sách, quy định pháp luật. Việc chủ động công khai, minh bạch các hoạt động hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật trong thời gian qua đã được thực thi khá tốt. Điều này cũng đã được quy định cụ thể trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật từ khâu lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, nghị định đến quá trình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật đều có các quy định về việc phải công khai thông tin để người dân có cơ hội tham gia đóng góp ý kiến. Trong quá trình soạn thảo văn bản, cơ quan chủ trì soạn thảo đã chủ động trong việc công khai dự thảo văn bản để người dân tham gia đóng góp ý kiến qua các cuộc hội thảo, toạ đàm, phiếu lấy ý kiến, đăng dự thảo trên 16 trang thông tin điện tử của cơ quan… Bên cạnh đó, nhiều báo, tạp chí cũng đã đăng dự thảo văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng các diễn đàn để công dân tham gia đóng góp ý kiến.

Quốc hội, Chính phủ đã mở chuyên mục, diễn đàn để công dân, tổ chức, doanh nghiệp đóng góp ý kiến trên trang thông tin điện tử của mình. Nhiều phiên họp của Quốc hội khi thảo luận về việc hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật cũng đã được truyền hình trực tiếp đến với người dân. Trong quản lý hành chính Nhà nước nói chung Trong hoạt động của các cơ quản lý hành chính nhà nước hàng ngày có rất nhiều lĩnh vực liên quan đến quyền và lợi ích thường nhật của người dân như: đất đai, xây dựng, quy hoạch, kinh doanh, chế độ an sinh xã hội. Việc được cung cấp đầy đủ thông tin về những lĩnh vực này là một nhu cầu chính đáng và cấp thiết của người dân.

Các cơ quan nhà nước phải có nghĩa vụ công khai những thông tin do mình nắm giữ để phổ biến đến người dân thông qua nhiều hình thức khác nhau như: đáp ứng lại yêu cầu trực tiếp của người dân; niêm yết công khai tại trụ sở hay công bố rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Ngược lại, đối với người dân, họ có quyền được tiếp cận, được cung cấp và phổ biến những thông tin do các cơ quan nhà nước nắm giữ, nếu như những thông tin này không thuộc bí mật quốc gia hoặc xâm hại đời tư cá nhân đã được pháp luật quy định. Việc người dân thực hiện được quyền tiếp cận thông tin của mình một cách hiệu quả và dễ dàng phụ thuộc vào các yếu tố như: pháp luật có quy định một cách rõ ràng, thống nhất về những thông tin người dân được tiếp cận, trình tự thủ tục tiếp cận thông tin và chế tài xử lý các hành vi vi phạm quyền tiếp cận thông tin của người dân. Một ví dụ thực tế ở nước ta trong những năm qua, sở dĩ phát sinh nhiều các cuộc khiếu kiện vượt cấp, kéo dài, đông người liên quan đến đất đai có nguyên nhân quan trọng là do người dân chưa được thông tin đầy đủ về các 17 vấn đề như: quy hoạch, thu hồi đất, giá đất, hỗ trợ đền bù, giải phóng mặt bằng.

Một mặt chính quyền, cán bộ có thẩm quyền ở nhiều địa phương vô tình hoặc cố ý bưng bít thông tin hoặc công bố thông tin nhỏ giọt; mặt khác, người dân, do không có được các kênh thông tin khác nên làm nảy sinh tiêu cực từ phía một số cán bộ có thẩm quyền, còn người dân thì phát sinh sự nghi ngờ, không tin tưởng vào các chính sách đất đai của chính quyền địa phương. Điều này phản ánh một thực tế là chừng nào thông tin chính đáng mà người dân được phép tiếp cận vẫn bị hạn chế, bưng bít thì chừng đó còn phát sinh những khiếu nại, khiếu kiện. Trong hoạt động tư pháp Tuyên truyền, phổ biến, hướng dẫn và giải đáp cho người dân hiểu và nắm vững các quy định của pháp luật cũng là nhiệm vụ của các cơ quan Nhà nước nói chung và các cơ quan tư pháp nói riêng. Để làm tốt công tác này, một mặt các cơ quan tư pháp phải có trách nhiệm sẵn sàng giải đáp và trả lời những thắc mắc, kiến nghị của người dân liên quan đến các quy định của pháp luật nếu họ yêu cầu trong quá trình các cơ quan này tiến hành các thủ tục tư pháp.

Mặt khác, các cơ quan tư pháp cũng phải chủ động tuyên truyền, phổ biến và hướng dẫn người dân nắm vững các quy định của pháp luật để từ đó có sự chấp hành và tuân thủ pháp luật được tốt hơn. Trong hoạt động tư pháp, nếu quyền tiếp cận thông tin của người dân được tôn trọng và đảm bảo thực hiện tốt sẽ có nhiều thuận lợi đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp, cụ thể: Thứ nhất: Phòng ngừa và ngăn chặn tội phạm xẩy ra Ngoài các chế tài xử lý, tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật luôn là một biện pháp song hành đối với công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm của các cơ quan tư pháp. Thực tế có những vụ vi phạm pháp luật bị truy tố và đưa ra xét xử không phải xuất phát từ sự bất tuân thủ, cố ý vi 18 phạm pháp luật mà là do người phạm tôi không nắm được các quy định của pháp luật dẫn đến sự vi phạm không đáng có. Cách thức thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức như: hoạt động của các cán bộ công an tại cơ sở: thôn, bản, xã, phường, thị trấn; thông qua quá trình điều tra, truy tố và xét xử của các cơ quan tư pháp; hoạt động giam giữ và cải tạo tại các trại giam.

Các hoạt động này nếu được thực hiện tốt có thể phòng ngừa và hạn chế được các hành vi vi phạm pháp luật; hạn chế đến mức tối đa sự tái phạm của người phạm tối sau khi chấp hành xong các bản án; Thứ hai: Tạo điều kiện để các hoạt động điều tra, truy tố và xét xử các vụ án được diễn ra nhanh chóng, hiệu quả. Trong quá trình giải quyết các vụ án, thông qua việc tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật, các cơ quan tư pháp có thể làm cho người phạm tội thấu hiểu được những lỗi lầm của mình, hiểu được những hậu quả bất lợi cho xã hội do hành vi vi phạm pháp luật của mình gây ra từ đó có sự hợp tác, thành khẩn khai báo, giúp các cơ quan tố tụng điều tra, mở rộng vụ án, không bỏ lọt tội phạm, từ đó nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử, kết thúc vụ án. Một khía cạnh khác, trong các vụ án dân sự, tranh chấp giữa các bên thường xẩy ra do một trong hai bên hoặc cả hai chưa nắm rõ và hiểu đúng quyền lợi và nghĩa vụ của mình theo các quy định của pháp luật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ