Tổng quan nghiên cứu

Quyền tham gia chính trị là một trong những quyền con người cơ bản thuộc nhóm quyền dân sự và chính trị, đóng vai trò là thước đo trực tiếp cho mức độ dân chủ và tính thượng tôn pháp luật của một quốc gia. Sau khi Việt Nam chính thức trúng cử và đảm nhiệm vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 với số phiếu ủng hộ áp đảo 175/193 quốc gia, yêu cầu hoàn thiện thể chế pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi các quyền con người ngày càng trở nên cấp thiết. Mặc dù các kỳ bầu cử Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp tại Việt Nam luôn ghi nhận tỷ lệ cử tri tham gia bỏ phiếu đạt trên 99%, nhưng việc thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội của người dân vẫn còn bộc lộ nhiều khoảng cách giữa quy định trên văn bản và thực tiễn đời sống.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ những bất cập trong cơ chế thực thi quyền tham gia chính trị của công dân Việt Nam từ góc độ luật nhân quyền quốc tế và pháp luật quốc gia. Đề tài hướng tới mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát toàn diện thực trạng quy định pháp luật cũng như quá trình áp dụng trong giai đoạn từ năm 1945 đến sau khi ban hành Hiến pháp năm 2013, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính chiến lược và khả thi. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ khoa học giúp hoàn thiện hệ thống lập pháp, thúc đẩy nâng cao chỉ số minh bạch công quyền và phát huy quyền làm chủ thực chất cho hơn 90 triệu công dân Việt Nam trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng của 3 lý thuyết học thuật cốt lõi:

  1. Lý thuyết Khế ước xã hội (Social Contract Theory): Tiêu biểu bởi các tư tưởng của Jean-Jacques Rousseau và Montesquieu, luận giải rằng quyền lực nhà nước bắt nguồn từ nhân dân; nhà nước là tổ chức quyền lực công được người dân ủy quyền có điều kiện nhằm bảo vệ tự do và lợi ích hợp pháp của cộng đồng.
  2. Học thuyết Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân: Khẳng định quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân lao động, vận hành theo cơ chế dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua phương châm chỉ đạo "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
  3. Lý thuyết Chuẩn mực Nhân quyền Quốc tế: Dựa trên các nguyên tắc phổ quát được ghi nhận tại Điều 21 Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (UDHR), Điều 25 Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 (ICCPR), cùng Bình luận chung số 25 năm 1996 của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc.

Các khái niệm chính được định hình xuyên suốt đề tài bao gồm: quyền tham gia chính trị (political participation right), quyền tiếp cận các chức vụ công, quyền bầu cử - ứng cử, quyền trưng cầu ý dân, và nhóm quyền giám sát quyền lực nhà nước (khiếu nại, tố cáo, khởi kiện hành chính).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp phong phú bao gồm hơn 50 văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, 2 văn kiện nhân quyền quốc tế cơ bản (UDHR, ICCPR), cùng hơn 120 báo cáo hành chính, số liệu thống kê bầu cử và giải quyết khiếu nại tố cáo trong giai đoạn 2008 - 2014.

Về phương pháp chọn mẫu, tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng có mục đích, phân loại tài liệu theo 3 nhóm cấu trúc quyền chính: nhóm quyền tham gia trực tiếp (trưng cầu ý dân, thi tuyển công chức), nhóm quyền dân chủ đại diện (bầu cử, ứng cử), và nhóm quyền giám sát công quyền. Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu gồm 15 đạo luật chuyên ngành và 24 báo cáo tổng kết thực thi dân chủ cơ sở tại các địa phương đại diện cho ba miền Bắc, Trung, Nam. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm kết hợp so sánh luật học và xã hội học pháp luật là nhằm tạo ra cái nhìn đối chiếu đa chiều, giúp nhận diện rõ sự tương thích hoặc độ vênh giữa tiêu chuẩn quốc tế và thực tế áp dụng tại Việt Nam trong khung thời gian nghiên cứu 2012 - 2014.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Luận văn đã chỉ ra 4 phát hiện căn bản về thực trạng quyền tham gia chính trị tại Việt Nam:

  1. Sự mở rộng về mặt hiến định nhưng còn khoảng trống lập pháp cụ thể: Hiến pháp năm 2013 đã tiến bộ vượt bậc khi quy định quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 28) và quyền biểu quyết trưng cầu ý dân (Điều 29). Tuy nhiên, đến năm 2014, Việt Nam vẫn chưa ban hành Luật Trưng cầu ý dân. Tỷ lệ các dự thảo chính sách lớn được đưa ra lấy ý kiến toàn dân tuy đạt 100% đối với sửa đổi Hiến pháp nhưng chỉ mang tính chất tham vấn, chưa đạt tới cấp độ phúc quyết có giá trị ràng buộc pháp lý trực tiếp.
  2. Cơ chế thi tuyển chức vụ công từng bước chuẩn hóa nhưng còn yếu tố hạn chế: Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 24/2010/NĐ-CP đã tạo lập khung pháp lý công khai với 4 nguyên tắc tuyển dụng bình đẳng. Dù vậy, các yêu cầu mang tính định tính về lý lịch chính trị khiến việc tiếp cận vị trí công vụ của một số nhóm công dân ngoài hệ thống chính trị còn gặp rào cản, chưa hoàn toàn tương thích với khuyến nghị tại Bình luận chung số 25 của ICCPR.
  3. Tỷ lệ cử tri bầu cử cao danh nghĩa nhưng mức độ cạnh tranh tự ứng cử còn thấp: Trong các kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII và XIII, tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu luôn đạt mức trên 99.5%. Tuy nhiên, tỷ lệ đại biểu là người tự ứng cử trúng cử chỉ chiếm khoảng 1.2% đến 1.8% tổng số đại biểu, phản ánh quy trình hiệp thương 3 vòng của Mặt trận Tổ quốc còn tạo ra sự chọn lọc khắt khe đối với ứng viên độc lập.
  4. Quyền giám sát công quyền phát triển nhưng tỷ lệ giải quyết khiếu nại dứt điểm chưa cao: Nhóm quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện hành chính (Điều 30 Hiến pháp 2013) được xác định là bộ phận cấu thành hữu cơ của quyền tham gia chính trị. Số lượng đơn thư tiếp nhận tại các cơ quan hành chính mỗi năm lên tới hơn 50.000 vụ việc, nhưng tỷ lệ giải quyết đúng thời hạn luật định chỉ dao động trong khoảng 65% đến 72%.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên phản ánh nguyên nhân căn bản xuất phát từ sự thiếu đồng bộ giữa luật nội dung và luật hình thức, cũng như thói quen hành chính tập trung còn tồn tại. Khi đối chiếu với các nghiên cứu của các chuyên gia luật học hàng đầu tại Việt Nam, sự thiếu vắng một cơ chế tài phán hiến pháp độc lập là nút thắt lớn nhất kìm hãm việc bảo vệ trực tiếp các quyền chính trị của người dân khi bị cơ quan công quyền xâm phạm.

Để minh họa rõ nét các kết luận này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa thông qua hai dạng thức trình bày:

  • Biểu đồ cột so sánh tỷ lệ tự ứng cử và tỷ lệ trúng cử: Phản ánh khoảng cách giữa số lượng hồ sơ tự ứng cử nộp vào và tỷ lệ ứng viên tự ứng cử thực tế trúng cử qua 3 nhiệm kỳ Quốc hội (khóa XI, XII, XIII), cho thấy xu hướng biến thiên ở mức dưới 2%.
  • Bảng ma trận đối chiếu mức độ tương thích pháp lý: Thể hiện thang đo 5 cấp độ giữa các tiêu chuẩn của Điều 25 ICCPR (quyền bầu cử, quyền ứng cử, tiếp cận dịch vụ công, không phân biệt đối xử) với hệ thống luật thực định Việt Nam (Hiến pháp 2013, Luật Bầu cử, Luật Cán bộ công chức), làm nổi bật những điều khoản cần tiếp tục nội luật hóa.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra 5 giải pháp trọng tâm nhằm bảo đảm thực thi quyền tham gia chính trị ở Việt Nam:

  1. Khẩn trương ban hành Luật Trưng cầu ý dân: Quốc hội cần đóng vai trò chủ trì xây dựng và thông qua Luật Trưng cầu ý dân trong giai đoạn 2015 - 2016, thiết lập quy trình bỏ phiếu trực tiếp cho tối thiểu 100% các quyết sách quốc gia liên quan đến chủ quyền lãnh thổ hoặc thay đổi căn bản thể chế chính trị.
  2. Đổi mới quy trình bầu cử và nâng cao tính cạnh tranh của cơ chế ứng cử: Hội đồng Bầu cử Quốc gia phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sửa đổi quy trình hiệp thương, đặt mục tiêu nâng tỷ lệ người tự ứng cử đủ điều kiện lọt vào danh sách bầu cử chính thức lên mức tối thiểu 10% - 15% trong kỳ bầu cử Quốc hội khóa XIV (2016 - 2021).
  3. Thành lập Cơ quan Nhân quyền Quốc gia (NHRI): Chính phủ và Ủy ban Thường vụ Quốc hội nghiên cứu thiết lập thiết chế nhân quyền độc lập tuân thủ Nguyên tắc Paris năm 1993 trước năm 2020, tạo cơ chế giám sát độc lập giúp tiếp nhận và giải quyết trên 85% các phản ánh vi phạm quyền chính trị của công dân.
  4. Mở rộng thực thi dân chủ trực tiếp tại cấp cơ sở: Bộ Nội vụ và Ủy ban nhân dân các tỉnh triển khai thanh tra định kỳ việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại 100% xã, phường, thị trấn; phấn đấu đạt tỷ lệ trên 80% người dân được trực tiếp biểu quyết các khoản đóng góp và công trình phúc lợi công cộng.
  5. Hoàn thiện hành lang pháp lý về tiếp cận thông tin và quyền lập hội: Ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật về Hội trong lộ trình 2016 - 2018, bảo đảm công khai hóa trực tuyến 90% các văn bản quy hoạch, dự toán ngân sách địa phương để người dân thực hiện quyền giám sát.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị học thuật và ứng dụng chuyên sâu cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Cơ quan lập pháp và cơ quan tham mưu chính sách (Ủy ban Pháp luật của Quốc hội, Viện Nghiên cứu Lập pháp): Sử dụng các lập luận so sánh đối chiếu chuẩn mực quốc tế để trực tiếp phục vụ công tác thẩm tra, sửa đổi các dự án Luật Bầu cử, Luật Tiếp cận thông tin và xây dựng Luật Trưng cầu ý dân.
  2. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Luật học, Quyền con người: Khai thác khung lý thuyết về mối quan hệ giữa chủ quyền nhân dân và quyền tham gia chính trị, bổ sung tư liệu giảng dạy cho các học phần Luật Hiến pháp và Luật Nhân quyền quốc tế.
  3. Cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính và tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Thanh tra các cấp): Tham khảo quy trình chuẩn mực về giải quyết khiếu nại hành chính, nâng cao tỷ lệ xử lý dứt điểm đơn thư vượt mức 80% và thực hiện chuẩn mực tiếp công dân không phân biệt đối xử.
  4. Các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội dân sự và luật sư: Làm tài liệu tham chiếu để nâng cao chất lượng phản biện xã hội, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân trong các vụ án hành chính và thúc đẩy hoạt động trợ giúp pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

1. Quyền tham gia chính trị theo Điều 25 ICCPR bao gồm những trụ cột nào?
Theo Điều 25 ICCPR 1966 và Bình luận chung số 25 năm 1996, quyền này bao gồm 3 trụ cột: tham gia điều hành việc công trực tiếp hoặc qua đại diện, bầu cử - ứng cử trong các cuộc bầu cử định kỳ chân thực bằng bỏ phiếu kín, và tiếp cận bình đẳng các chức vụ công. Tất cả các quyền này không được phân biệt đối xử bởi 10 yếu tố như chủng tộc, giới tính, tôn giáo, hay quan điểm chính trị.

2. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam có những bước tiến gì về quyền tham gia chính trị?
Hiến pháp năm 2013 đã chuyển đổi tư duy lập hiến khi chuyển vị trí chế định Quyền con người lên Chương II. Bản Hiến pháp ghi nhận đầy đủ quyền tham gia quản lý nhà nước (Điều 28), quyền bầu cử từ đủ 18 tuổi và ứng cử từ đủ 21 tuổi (Điều 27), quyền biểu quyết trưng cầu ý dân (Điều 29), cùng quyền khiếu nại, tố cáo (Điều 30).

3. Vì sao luận văn đưa nhóm quyền khiếu nại, tố cáo vào nội hàm quyền tham gia chính trị?
Dù Điều 25 ICCPR không nêu trực tiếp quyền khiếu nại tố cáo, luận văn chứng minh rằng quyền giám sát qua khiếu nại, tố cáo là công cụ thực thi dân chủ trực tiếp. Đây là phương thức hữu hiệu giúp hơn 90 triệu dân kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước, phản ánh đúng bản chất "dân kiểm tra" trong nhà nước của dân, do dân, vì dân.

4. Cơ quan Nhân quyền Quốc gia (NHRI) có vai trò như thế nào trong bảo vệ quyền tham gia chính trị?
Cơ quan Nhân quyền Quốc gia thành lập theo Nguyên tắc Paris năm 1993 là thiết chế độc lập với bộ máy hành pháp và tư pháp. Cơ quan này giúp tư vấn chính sách khách quan cho chính phủ, giải quyết khiếu nại độc lập, nâng tỷ lệ bảo vệ nạn nhân bị xâm phạm quyền lên trên 85% và tăng cường uy tín ngoại giao của Việt Nam tại Liên hợp quốc.

5. Giải pháp nào nâng cao chất lượng dân chủ trực tiếp tại cấp xã, phường ở Việt Nam?
Giải pháp then chốt là thể chế hóa triệt để Pháp lệnh Dân chủ ở xã, phường, thị trấn thành luật, bảo đảm 100% các khoản thu chi ngân sách cấp xã và quy hoạch đất đai phải được niêm yết công khai. Đồng thời, cần mở rộng hình thức đối thoại định kỳ giữa Chủ tịch Ủy ban nhân dân với nhân dân tối thiểu 2 lần mỗi năm.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập một cách hệ thống hệ khái niệm và cấu trúc quyền tham gia chính trị theo chuẩn mực luật nhân quyền quốc tế và Hiến pháp năm 2013.
  • Công trình chỉ ra rõ 4 rào cản thực tiễn, đặc biệt là khoảng trống pháp lý về trưng cầu ý dân và tỷ lệ đại biểu tự ứng cử trúng cử chỉ dưới mức 2%.
  • Nghiên cứu đề xuất thành công mô hình Cơ quan Nhân quyền Quốc gia (NHRI) theo Nguyên tắc Paris nhằm hoàn thiện cơ chế giám sát độc lập tại Việt Nam.
  • Đưa ra lộ trình lập pháp cụ thể cho 3 đạo luật quan trọng giai đoạn 2015 - 2020 gồm Luật Trưng cầu ý dân, Luật Tiếp cận thông tin và Luật về Hội.
  • Toàn bộ kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà làm luật, giảng viên và các tổ chức xã hội nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân chủ, công bằng, văn minh.