Chương 1 của đề tài, qua nghiên cứu và tìm hiểu từ các nguồn tài liệu đáng tin cậy, nhóm tác giả sẽ trình bày khái quát những kiến thức chung về người chuyển đổi giới tính nhằm mục đích hiểu rõ hơn về nhóm người đặc biệt này, phân biệt giữa người chuyển giới và các nhóm người khác trong LGBT. Đồng thời, nhóm tác giả cũng sẽ phân tích quyền nhân thân của con người nói chung và quyền nhân thân của người chuyển đổi giới tính nói riêng theo pháp luật dân sự và nêu ra ý nghĩa của quyền nhân thân đối với người chuyển đổi giới tính. Chúng ta cần hiểu rõ về người chuyển giới thì mới biết cảm thông, chia sẻ, biết được những tổn thương họ đang phải chịu đựng, từ đó xã hội mới thay đổi cách nhìn nhận của mình đối với cộng đồng người chuyển giới và yêu thương, bao dung với họ hơn. Khái quát về người chuyển đổi giới tính 1.
Khái niệm chuyển đổi giới tính và người chuyển đổi giới tính Chuyển đổi giới tính là một vấn đề pháp lý, xã hội gắn liền với quyền nhân thân của con người. Hiện nay, quyền chuyển đổi giới tính được nhiều người quan tâm, nghiên cứu nhằm tạo ra hành lang pháp lý bảo vệ cho nhóm người dễ bị tổn thương trong xã hội, giúp cho họ có một cuộc sống công bằng, bình đẳng với mọi người. Không ai có thể lựa chọn giới tính cho mình khi sinh ra, sự lựa chọn chỉ nằm ở việc một người dám hay không dám khám phá bản thân, sống thật với chính mình. Năm 1980, hiện tượng chuyển giới (Transgenderism) đã được Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (APA) chính 8 thức phân loại là một dạng bệnh tâm thần, có tên rối loạn định dạng giới (GID hay Gender Identity Disorder).
Ước tính, có khoảng 0,005% - 0,014% nam giới và 0,002% - 0,003% nữ giới được chẩn đoán mắc chứng GID dựa trên các tiêu chí chẩn đoán hiện tại. Với dạng bệnh này, bệnh nhân sẽ có hành vi nhằm chối bỏ giới tính của mình, họ ăn mặc, phát ngôn, hành động như người khác giới và mong muốn phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Các tổ chức nghiên cứu khuyến cáo nên điều trị bệnh cho những người chuyển giới bằng các liệu pháp tâm lý hơn là công nhận việc chuyển đổi giới tính cho họ. Tuy nhiên sau thời gian dài nghiên cứu, quan điểm trên đã có sự thay đổi.
Theo báo cáo của Bộ Y tế Việt Nam2, chuyển giới thực chất không phải là một dạng rối loạn tâm thần, vì chỉ có thể coi là rối loạn tâm thần khi một người rơi vào hoàn cảnh đau khổ, bất lực rõ rệt và lâu dài, trong khi nhiều người chuyển đổi giới tính không trải qua những trải nghiệm như vậy. Từ phát hiện đó, năm 2012, chuyển giới được loại ra khỏi danh sách các dạng rối loạn tâm thần của DSM3, có nghĩa là được xem là một tình trạng tâm lý bình thường. Điều này đã giúp cho xã hội có một cái nhìn khách quan hơn, rộng lượng hơn đối với người chuyển giới. Đồng thời, người chuyển giới cũng tự tin thừa nhận bản thân mình, thể hiện bản thân, sống hòa nhập với mọi người.
Dưới góc độ y tế, nếu muốn thay đổi giới tính của mình, con người phải thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính bằng các biện pháp y học như cắt bỏ đi phần ngực (đối với nữ), cắt bỏ đi bộ phận sinh dục, tiêm hormones (hoóc-môn) nam/nữ vào cơ thể, thẩm mỹ gương mặt của mình. để phù hợp với giới tính bản thân đã chọn. Tuy nhiên, ngày nay, trên thế giới, việc chuyển đổi giới tính không còn bắt buộc phải can thiệp thì mới được công nhận là người chuyển đổi giới tính. Đây không còn là một quá trình phẫu thuật vừa dài vừa đau đớn mà đơn giản chỉ là một thủ tục pháp lý.
Theo đó, một người được sinh ra với giới tính sinh học bình thường, trong quá trình phát triển tự nhiên, họ nhận thức được giới tính thật sự ngược với giới tính sinh học của mình thì được xem là người chuyển giới. Theo pháp luật của một số quốc gia, khi một người nhận ra bản dạng giới của mình không giống với giới tính sinh học, nếu họ chuyển giới, họ không cần thực hiện phẫu thuật mà thay vào đó, họ chấp nhận được tư vấn tâm lý để xác định lại giới tính và một khi đã chắc chắn với sự lựa chọn của mình, họ sẽ được thay đổi giới tính trên giấy tờ và sinh sống với một giới tính mới. Trong Dự thảo Luật Chuyển đổi giới tính của Việt Nam, các nhà làm luật đã đề xuất rằng không cần can thiệp y tế, người chuyển giới được ghi nhận trên giấy tờ tùy thân của mình. Về mặt tích cực, các quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho người chuyển đổi giới tính.
Họ tiết kiệm được thời gian, 2 Bộ Y tế, Báo cáo Thực trạng về người chuyển đổi giới tính tại Việt Nam và hệ thống pháp luật có liên quan. 3 DSM (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders - Sổ tay chẩn đoán và thống kê các rối loạn tâm thần) của Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association) 9 tiền bạc, đảm bảo sức khỏe của mình, giấy tờ tùy thân cũng được thay đổi kịp thời, không làm gián đoạn đến nghề nghiệp hay các giao dịch dân sự của người chuyển giới. Bên cạnh mặt tích cực, các thủ tục này nếu được quy định quá đơn giản thì sẽ gây ra nhiều hậu quả khác như hiện tượng chuyển giới ồ ạt, hay chuyển giới nhiều lần. Trên thực tế, chuyển đổi giới tính có hai hình thức là chuyển đổi giới tính bằng các biện pháp can thiệp y tế, thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính và chuyển đổi trên giấy tờ nhân thân, không thực hiện phẫu thuật.
Hiện nay, 72 quốc gia đã thừa nhận quyền thay đổi giới tính hợp pháp; trong đó: châu Âu có 41/50 quốc gia và vùng lãnh thổ; châu Á có 13/50 quốc gia và vùng lãnh thổ, châu Mỹ và Mỹ Latinh có 15/35 nước và vùng lãnh thổ, châu Phi có 01/54 quốc gia và vùng lãnh thổ; Châu Đại Dương có 02/14 quốc gia và vùng lãnh thổ có pháp luật điều chỉnh về chuyển đổi giới tính; 45/72 quốc gia cho phép chuyển đổi giới tính mà không cần phải phẫu thuật; độ tuổi được phép chuyển đổi giới tính phổ biến là 16 đến 18 tuổi4. Có thể thấy, việc chuyển đổi giới tính không qua phẫu thuật chiếm ưu thế cao hơn bởi sự an toàn và hợp pháp của nó, người chuyển đổi giới tính vẫn được sống đúng với giới tính thật của mình mà không trái với quy định của pháp luật. Người chuyển đổi giới tính là người thuộc cộng đồng LGBT. Theo đó, LGBT là tên viết tắt các chữ cái đầu của một cộng đồng những người đồng tính luyến ái nữ (Lesbian), đồng tính luyến ái nam (Gay), song tính luyến ái (Bisexual) và người chuyển giới (Transgender).
“Transgender” là một thuật ngữ được khởi đầu từ nước Mỹ, được dùng để chỉ những người có lối sống khác với chuẩn mực về giới trong xã hội5. Nó được dùng để chỉ những người thay đổi trong cách ăn mặc, cách thể hiện bản thân họ hoặc những người đã trải qua nhiều cuộc phẫu thuật chuyển đổi giới tính để có được cơ thể như mong muốn. Theo tài liệu của Chương trình tự do và Bình đẳng Liên hợp quốc (UN Free & Equal), người chuyển giới (transgender) là người có bản dạng giới khác với giới tính được xác định khi sinh ra6. Đây là một khái niệm rất rộng bao gồm những người chuyển đổi giới tính7 trước và sau khi thực hiện phẫu thuật chuyển giới và cả những 4 Minh Hùng, “Kiến nghị xây dựng Luật cụ thể hóa quyền chuyển đổi giới tính”, https://quochoi.vn/hoatdongdbqh/Pages/tin-hoat-dong-dai- bieu.aspx?ItemID=72917#:~:text=Hi%E1%BB%87n%20nay%2C%2072%20qu%E1%BB%91c%20gia,v%C3% A0%20v%C3%B9ng%20l%C3%A3nh%20th%E1%BB%95%20c%C3%B3, truy cập ngày 04/03/2023.
5 Phạm Quỳnh Phương (2013), Người đồng tính, song tính và chuyển giới tại Việt Nam, Tổng luận các nghiên cứu, tr.14 6 UN Free & Equal, Transgender, tr.org/wp-content/uploads/2017/05/UNFE- Transgender.pdf, truy cập ngày 24/5/2023 7 Người chuyển đổi giới tính (transgender person) là những người đã thực hiện thay đổi giới tính hoặc đã trải qua liệu pháp hormones. Tuy nhiên, định nghĩa này chỉ có giá trị tương đối, ở một số quốc gia như Anh, Phần Lan, … quan niệm người chuyển đổi giới tính là người thay đổi về mặt pháp lý mà không cần phải thực hiện thay đổi giới tính hoặc trải qua liệu pháp hormones. Xem: Europe Parhament (2010), Transgender Persons’ Rights in the EU Member States, tr.europaeu/RegData/etudes/note/join/2010/425621/IPOL- LIBE_NT(2010)42562_EN pdf, truy cập ngày 24/5/2023. 10 người không lựa chọn hoặc không có điều kiện tiếp cận việc phẫu thuật cũng như dùng liệu pháp hormones.
Như vậy, người chuyển đổi giới tính là những người nhận mình có giới tính khác với giới tính sinh học khi sinh ra, họ có thể thể hiện bản dạng giới của mình khác với giới tính mà họ đang mang8. Bản dạng giới là cảm nhận bên trong của một người, họ nhận thức được việc họ là nam hay nữ, hay là một giới khác, họ thể hiện bản dạng giới thông qua hành vi, quần áo, kiểu tóc, giọng nói và những đặc điểm trên cơ thể của mình. Chẳng hạn, một người sinh ra với giới tính là nam nhưng cảm nhận giới tính của mình là nữ hoặc ngược lại, một người sinh ra với giới tính nữ nhưng lại cảm nhận mình mang giới tính nam. Bản dạng giới không giống với giới tính sinh học của con người.
Giới tính sinh học được xác định từ lúc một người mới ra đời để chỉ việc người đó là nam, nữ hay người liên giới (intersex)9 về mặt sinh học, có sẵn là từ khi sinh ra, đồng nhất và không biến đổi, gắn liền với những thuộc tính như nhiễm sắc thể, nội tiết tố, cơ thể bên trong và bên ngoài. Người có giới sinh học trùng với bản dạng giới thì đó là người hợp giới, khác với bản dạng giới thì đó là người chuyển giới. Người chuyển giới không phải chỉ khi đã làm phẫu thuật chuyển giới mới được gọi là người chuyển đổi giới tính như mọi người vẫn hay lầm tưởng. Không phải ai cũng có thể thực hiện phẫu thuật chuyển giới và cũng có rất nhiều người dù muốn sống thật với giới tính của mình nhưng không muốn thay đổi cơ thể.
Nhiều trường hợp dị ứng với thuốc gây mê, bị sốc phản vệ khi tiêm hormones. dẫn đến những hậu quả đau lòng hoặc không đủ điều kiện kinh tế để thực hiện phẫu thuật. Do đó, một số quốc gia trên thế giới đã ghi nhận quyền chuyển đổi giới tính trên giấy tờ. Cá nhân có thể thực hiện chuyển đổi giới tính của mình trên giấy tờ mà không cần thực hiện phẫu thuật.