Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KINH TẾ, VĂN HÓA, XÃ HỘI VÀ HIẾN PHÁP 1. Khái quát về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội 1. Quan niệm về quyền con người 1. Nguồn gốc về quyền con người Khát vọng bảo vệ nhân phẩm của tất cả con người là cốt lõi của khái niệm quyền con người.
Nó coi cá nhân con người là trọng tâm của sự quan tâm. Nó dựa trên một hệ thống toàn cầu giá trị phổ biến nhằm hướng đến những giá trị cao quý của cuộc sống và tạo ra một khuân khổ để xây dựng hệ thống quyền con người, được các quy phạm và tiêu chuẩn quốc tế bảo vệ. Ý tưởng về nhân phẩm con người đã có từ thời xa xưa đã được hình thành từ rất sớm trong lịch sử nhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa và tôn giáo. Trong thời kỳ cổ đại, các nhà chính trị, tư tưởng, tôn giáo đã có những tư tưởng, giáo luật thể hiện sự tôn trọng phẩm giá con người, bảo vệ con người, đặc biệt là những nhóm yếu thế (phụ nữ, trẻ em, người già, người khuyết tật….) đề cao sự bình đẳng… Đây có thể coi là những tư tưởng đầu tiên của nhân loại có tính hệ thống và nội dung rõ ràng về quyền con người.
Quyền con người gắn liền với lịch sử loài người. Đó là những sản phẩm của điều kiện lịch sử kinh tế - xã hội nhất định và chịu sự chi phối của các cơ sở kinh tế - xã hội đó. Tuy nhiên, do tính độc lập tương đối của tư tưởng, quan niệm về quyền con người còn phụ thuộc một phần quan trọng vào sự phát triển của tư duy về xã hội nói chung, đặc biệt là tư duy triết học, chính trị, của mỗi thời đại nói riêng Nhìn lại lịch sử, các quốc gia trên thế giới cũng đã hình thành và ban hành pháp luật làm phương tiện cai trị, các văn bản pháp luật từ thời cổ đại 6 z thông qua các quy định một phần thể hiện các giá trị quan trọng về lịch sử, văn hóa, pháp lý nhưng một phần cũng phản ánh nhận thức quan niệm về công bằng, giá trị của nhân phẩm, và quyền lợi ích chính đáng của con người Có thể kể đến như Luật Hammurabi, Luật Manu, Luật Kautilya, Luật Asoka…Ví dụ trong Luật Hammurabi là văn bản luật cổ nhất của nhân loại còn được bảo tồn tốt. Bộ luật này được ban hành vào khoảng thập niên 1760 TCN, Bộ luật thể hiện tư tưởng đề cao pháp luật, coi pháp luật là phương tiện hữu hiệu để bảo đảm các quyền con người, vì vậy mà vua xứ Babylon là Hammurabi (1810- 1750 TCN) đã nói rằng mục đích của việc ban hành đạo luật cổ nối tiếng này là để: “…ngăn ngừa những kẻ mạnh áp bức kẻ yếu” [30].
Bộ luật quy định nhiều hình phạt đối với những tội vi phạm tự do ngôn luận, vu khống người vô tội, hay những hành vi xâm phạm quyền sở hữu. Đặc biệt tư tưởng mọi người đều bình đẳng trước pháp luật còn được thể hiện rất rõ nét sức mạnh của hình phạt, khi được thực thi một cách công bằng tương ứng với mức độ phạm tội và bất chấp kẻ bị chừng phạt là con vua hoặc kẻ thù, là bảo vệ xã hội này và xã hội sau. Trong những giai đoạn sau này, tư tưởng đề cao pháp luật với việc bảo đảm quyền con người cũng được sự phát triển bởi nhiều nhà tư tưởng nối tiếng của nhân loại, và được minh chứng bằng sự ra đời của ngày càng nhiều các văn bản pháp luật quốc gia và pháp luật quốc tế về các quyền tự do của con người, quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế, từ Đại hiến chương Magna Carta (the Magna Carta, 1251), Bộ luật về các quyền (the Bill of rights, 1689) của nước Anh; Tuyên ngôn về các quyền của con người và của công dân (the Declaration of the Rights of Man and of the Citizen, 1789) của nước Pháp; Tuyên ngôn Độc lập (the Declaration Independence, 1766) và Bộ luật về các quyền (the Bill of Rights, 7 z 1789/1791) của nước Mỹ cho đến Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 và hệ thống đồ sộ hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con người do Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế khác thông qua từ đầu thế kỷ XX đến nay. Tất cả đã cho thấy pháp luật đã có một vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người.
Có hai trường phái trái ngược nhau về nguồn gốc của nhân quyền mà đôi khi chi phối khá mạnh mẽ quan điểm và cách thức thực hiện quyền con người của các quốc gia. Trường phái thứ nhất - những người theo thuyết về quyền tự nhiên (natural rights) - cho rằng nhân quyền là những gì bẩm sinh, vốn có mà mọi cá nhân từ khi sinh ra đều đã được hưởng, chỉ đơn giản bởi họ là con người. Do đó, các quyền con người không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa hay ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào. Xuất phát từ thuyết pháp quyền tự nhiên, không một chủ thể nào, kể cả các nhà nước, có thể ban phát hay tùy tiện tước bỏ các quyền con người.
Ngược lại, trường phái thứ hai - những người theo thuyết về quyền pháp lý (legal rights) - cho rằng, quyền con người không phải là những gì bẩm sinh, vốn có của con người mà nó chỉ nảy sinh khi các nhà nước quy định trong pháp luật. Xuất phát từ thuyết này, phạm vi, giới hạn của các quyền con người phụ thuộc vào ý chí của tầng lớp thống trị và bị chi phối bởi các yếu tố như phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa. Thực tế cho thấy, quan điểm cực đoan phủ nhận hoàn toàn bất cứ thuyết nào kể trên đều không phù hợp, bởi lẽ nếu không được thể chế hóa vào pháp luật thì các quyền tự nhiên của con người không thể được thực hiện; song nếu cực đoan hóa vai trò của nhà nước, của pháp luật sẽ dẫn đến tùy tiện, lạm dụng, vi phạm các quyền tự nhiên của con người. Kể từ khi Liên Hợp Quốc chính thức thừa nhận quyền con người vào 8 z năm 1948, với sự ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người, và nhiều văn kiện chính trị, pháp lý quốc gia về nhân quyền đều thừa nhận nguồn gốc tự nhiên song cũng nhấn mạnh vai trò của nhà nước và pháp luật trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền, từ đó quyền con người đã phát triển như một khuân khổ đạo đức, chính trị, pháp lý và như một định hướng nhằm phát triển thế giới tự do khỏi sự sợ hãi và tự do làm điều mong muốn.Trong lời nói đầu của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 đã nhấn mạnh: “Việc thuần nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [9].
Như vậy trong lời nói đầu của Tuyên ngôn, quyền con người được hiểu là các quyền tự nhiên, vốn có và không thể tách rời, không thể chuyển nhượng được của cá nhân. Tuyên ngôn không đưa ra định nghĩa về quyền con người mà nói về nội hàm đưa ra các quyền chính trên cơ sở sự đồng thuận của đông đảo các quốc gia thành viên Liên Hợp Quốc. Khái niệm quyền con người Ngày nay, quyền con người được thừa nhận là một khái niệm toàn cầu như được ghi nhận trong tuyên bố của hội nghị thế giới Wien (Áo) về quyền con người năm 1993 và các nghị quyết của Liên Hợp Quốc đã được thông qua nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời của Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người (1948- 1998). Tuy nhiên cho đến nay cách hiểu về quyền con người vẫn chưa có sự thống nhất, Một mặt, đang còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về nguồn gốc, bản chất của quyền con người.
Mặt khác, quyền con người được xem dưới nhiều góc độ khác nhau như: triết học, đạo đức, chính trị, pháp luật… Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm tất cả các thuộc tính của quyền con người. 9 z Tùy vào tính chủ quan của mỗi người, tùy vào lĩnh vực nghiên cứu mà quyền con người được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa phổ biến nhất vẫn là định nghĩa của văn phòng Cao ủy Liên Hợp Quốc về quyền con người (OHCHR). Theo định nghĩa này: Quyền con người (human rights) là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [39, tr.
Liên quan đến các khái niệm trên, cũng cần lưu ý, thuật ngữ human rights trong tiếng Anh có thể được dịch là quyền con người (theo tiếng thuần Việt) hoặc nhân quyền (theo Hán - Việt). Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người” [37], Như vậy, xét về mặt ngôn ngữ học, đây là hai từ đồng nghĩa, và hoàn toàn có thể sử dụng trong nghiên cứu, và hoạt động thực tiến về quyền con người Một số tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam, định nghĩa về quyền con người cũng không hoàn toàn giống nhau nhưng xét chung quyền con người được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [14, tr. Như vậy, trong hai định nghĩa trên thì quyền con người là những quyền vốn có của con người, không phân biệt quốc tịch, nơi cư trú, giới tính, nguồn gốc, hay quốc gia, dân tộc, màu da, tôn giáo, ngôn ngữ hay bất kỳ một thân phận nào khác. Mọi người được hưởng các quyền của mình một cách bình đẳng không có sự phân biệt đối xử.
Những quyền này có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau và không thể tách rời. Đặc tính của quyền con người Theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế, quyền con người có các 10 z tính chất cơ bản là: “tính phổ biến, tính không thể chuyển nhượng, tính không thể phân chia, tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau” [14, tr.