Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự. Thực trạng pháp luật hiện hành về quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự Chương 3. Thực tiễn thực hiện các quy định về quyền khởi kiện, bảo đảm quyền khởi kiện và kiến nghị.
0 0 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHỞI KIỆN VÀ BẢO ĐẢM QUYỀN KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm, ý nghĩa của quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện trong tố tụng dân sự 1. Khái niệm, cơ sở và ý nghĩa quyền khởi kiện vụ án dân sự trong tố tụng dân sự. Khái niệm quyền khởi kiện vụ án dân sự Quyền khởi kiện xuất hiện từ khá sớm trong cổ luật La Mã, theo đó khi có hành vi xâm phạm quyền tư pháp của cá nhân thì người có quyền lợi bị xâm phạm bên cạnh việc sử dụng hình thức tự trấn áp, họ còn có quyền khởi kiện đến Tòa án yêu cầu bảo vệ quyền lợi của mình.
Người bị vi phạm có thực hiện quyền khởi kiện hay không, điều này pháp luật không bắt buộc mà phụ thuộc vào ý chí của người đó.1 Quyền khởi kiện xuất hiện với tư cách là một quyền con người và được ghi nhận trong nhiều văn bản pháp lý trên thế giới, cụ thể tại Điều 8 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên Hợp Quốc quyền khởi kiện được thể hiện gián tiếp thông qua quy định: “Mọi người đều có quyền được các Toà án quốc gia có thẩm quyền bảo vệ bằng các biện pháp hữu hiệu để chống lại những hành vi vi phạm các quyền cơ bản của họ mà đã được hiến pháp hay luật pháp quy định.” Thông qua quy định này có thể nhận thấy quyền khởi kiện được thừa nhận là một trong những quyền cơ bản không thể tách rời khỏi con người, bất kỳ sự xâm phạm nào đối với các quyền cơ bản của con người nói chung, quyền khởi kiện nói riêng sẽ làm ảnh hưởng đến việc xây dựng một thế giới lý tưởng mà ở đó con người có thể được hưởng các quyền tự do, các lợi ích chính đáng và đạt được khát vọng cao nhất của mình. Tuyên ngôn nhân quyền này được coi là cơ sở pháp lý để các quốc gia thành viên cam kết, tuân thủ trong quá trình xây dựng sự tôn trọng và đảm bảo cho các quyền tự do cơ bản của con người, và được thể hiện trong các thiết chế pháp luật tại mỗi quốc gia. Ở mỗi quốc gia, quyền khởi kiện được thể hiện dưới nhiều tên gọi khác nhau. Theo quy định của pháp luật tố tụng Pháp, khả năng được thừa nhận đối với các cá nhân được yêu cầu sự can thiệp của công lý để đạt được sự tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của mình được gọi là “tố quyền”2.
Còn tại Việt Nam, khái niệm quyền khởi kiện được nhiều tác giả nghiên cứu và đưa ra nhiều kết luận khác nhau theo từng 1 Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (1999), Giáo trình Luật La Mã, Lê Nết dịch, Tr. 2 Trần Anh Tuấn (2008), “Quyền khởi kiện và việc xác định tư cách tham gia tố tụng”, Tòa án nhân dân, (23), Hà Nội, tr. 12 - 20 0 0 thời kỳ phát triển của luật pháp. Nhà nghiên cứu Trần Thúc Linh cho rằng “tố quyền tức là quyền đi kiện” 3, còn trong Giáo trình Luật TTDS của Trường Đại học Luật Hà Nội 1994, một tác giả đã khẳng định “Quyền khởi kiện vụ án dân sự (VADS) là quyền tố tụng công dân, pháp nhân và các tổ chức xã hội yêu cầu TAND bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của mình, của tập thể Nhà nước hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc vi phạm”.4 Khái niệm này được xây dựng trước khi BLTTDS 2004 có hiệu lực, trên cơ sở các quy định tại Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các VADS do Hội đồng Nhà nước ban hành năm 1989.
Theo đó, khái niệm quyền khởi kiện VADS trong thời kỳ này được thực hiện đối với cả việc dân sự không có tranh chấp, như vậy quyền khởi kiện sẽ được hiểu theo nghĩa rộng hơn đồng nhất với quyền yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. Bên cạnh đó, tác giả đưa ra khái niệm trên để phân biệt với khái niệm quyền khởi tố VADS của Viện Kiểm sát (VKS), cụ thể: “Quyền khởi tố VADS là quyền tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của tập thể hay quyền, lợi ích hợp pháp của các cá nhân”5. BLTTDS 2004 ra đời là một bước ngoặt lớn trong TTDS, quy định tại Bộ luật này đã phân định rõ ràng giữa VADS và việc dân sự, theo đó thủ tục giải quyết VADS trước đây được tách thành hai thủ tục riêng biệt đó là thủ tục giải quyết VADS và thủ tục giải quyết việc dân sự đồng thời VKS không còn quyền khởi tố vụ án dân sự. Chính bởi vậy, khái niệm quyền khởi kiện sẽ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn.
Tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về quyền khởi kiện, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm chuyên sâu hơn vể quyền khởi kiện dưới các góc độ khác nhau. Dưới góc độ hành vi TTDS, TS. Hoàng Ngọc Thỉnh cho rằng “Quyền khởi kiện VADS là quyền tố tụng quan trọng của các chủ thể…Việc thực hiện quyền này của các chủ thể được gọi là khởi kiện VADS” và “Khởi kiện VADS là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật TTDS nộp đơn yêu cầu Tòa án có Thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hay của người khác” 6. Tương tự, giáo trình luật TTDS của Học viện Tư pháp cũng đưa ra khái niệm về quyền khởi kiện, theo đó: “Quyền khởi kiện vụ án dân sự là quyền tố tụng của cá nhân, pháp nhân, các tổ chức xã hội hoặc các chủ thể khác theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, của Nhà nước, tập thể hay của người khác đang bị tranh chấp hoặc bị vi phạm”7.
Từ các khái niệm này, ta có thể nhận thấy 3 Trần Anh Tuấn (2008), tlđd chú thích 2, tr.12 - 20 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (1994), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, NXB Tư Pháp, Hà Nội, tr. 5 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2014), Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr. 7 Học viện Tư pháp (2007), Giáo trình Luật tố tụng dân sự, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr.305 0 0 khởi kiện là hành vi đầu tiên của cá nhân, cơ quan, tổ chức khi tham gia vào quan hệ pháp luật TTDS, hay nói một cách khác không có việc khởi kiện VADS sẽ không thể có các giai đoạn tiếp theo của quá trình TTDS, Tòa án chỉ giải quyết VADS khi có đơn khởi kiện của đương sự.
Đây cũng chính là một trong những điểm khác biệt giữa tố tụng hình sự và TTDS. Sở dĩ như vậy, bởi quan hệ pháp luật dân sự được hình thành từ sự thỏa thuận, tự nguyện của các bên trong quan hệ, và “việc dân sự cốt ở đôi bên” chính là điểm cốt lõi dẫn đến việc tiến hành thủ tục TTDS tại Tòa án chỉ có thể khởi động bằng chính hành vi khởi kiện của đương sự thông qua việc làm cụ thể là gửi đơn khởi kiện và mục đích chính là giúp các chủ thể có thể bảo vệ được các quyền và lợi ích bị xâm phạm của mình, ngăn chặn và chấm dứt các hành vi trái pháp luật trong quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình (HNGĐ), kinh doanh thương mại (KDTM), lao động. Như vậy, quyền khởi kiện là quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc yêu cầu Tòa án có thẩm quyền bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách bị xâm phạm hoặc tranh chấp. Từ những kết quả nghiên cứu ta có thể thấy bản chất của quyền khởi kiện chính là quyền yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự và trọng tâm của khái niệm quyền khởi kiện chính là việc hướng đến bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động, bảo vệ quyền, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực cơ quan, tổ chức của mình phụ trách.
Khi nghiên cứu khái niệm quyền khởi kiện một cách toàn diện ta thường xét theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Cụ thể: - Theo nghĩa hẹp thì quyền khởi kiện VADS được hiểu là quyền của các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động hoặc các chủ thể được pháp luật trao quyền trong việc trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hoặc vi phạm. Quyền khởi kiện của các chủ thể trên được hiểu đơn giản là việc một chủ thể yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình hoặc của chủ thể khác thông qua hành vi đầu tiên là nộp đơn khởi kiện tại Tòa án để khởi động cho quá trình tố tụng tại Tòa án. Nói một cách khác nộp đơn khởi kiện chính là hành vi thực tế thực thi quyền khởi kiện của người khởi kiện làm trực tiếp phát sinh quan hệ TTDS tại Tòa án.
Như vậy, quyền khởi kiện theo nghĩa hẹp chính là cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh VADS và có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tư cách của các đương sự trong VADS đã được người khởi kiện thực hiện việc khởi kiện tại Tòa án. 0 0 - Theo nghĩa rộng thì quyền khởi kiện VADS được hiểu không những là quyền của các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, HNGĐ, KDTM, lao động hoặc các chủ thể được pháp luật trao quyền trong việc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi khi có tranh chấp hoặc xâm phạm, mà còn bao gồm cả quyền đưa ra yêu cầu phản tố của bị đơn và quyền đưa ra yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Quyền khởi kiện được hiểu theo nghĩa rộng xuất phát từ việc quyền bình đẳng giữa các đương sự tham gia TTDS.