CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 1. Khái niệm về đương sự trong tố tụng dân sự 1. Đương sự trong vụ án dân sự “Đương sự” là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận dưới nhiều góc độ. Đã có nhiều khái niệm về đương sự được đưa ra nhưng theo Từ điển Tiếng Việt thì “đương sự là người, là đối tượng trực tiếp của một việc đang giải quyết”.
Trong khoa học pháp lý thì đương sự được hiểu “là người có quyền, nghĩa vụ được giải quyết trong một việc khiếu nại hoặc trong một vụ án”. Như vậy, đương sự là người có liên quan trực tiếp trong một vụ việc nào đó đang được đưa ra xem xét, giải quyết, nghĩa là các chủ thể được coi là đương sự phải là những chủ thể có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp đến việc xem xét, giải quyết vụ việc đó. Cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác không phải là đương sự trong vụ việc khi không có quyền, lợi ích liên quan trực tiếp tới vụ việc cụ thể đang được giải quyết3. Từ những phân tích trên có thể khái quát: đương sự trong tố tụng dân sự là một trong những nhóm người tham gia vào quá trình tố tụng của Tòa án để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự.
Bộ luật Tố tụng Dân sự (sau đây gọi tắt là BLTTDS) có sự phân biệt rất rõ ràng giữa vụ án dân sự và việc dân sự, điểm khác biệt giữa hai loại vụ việc này là yếu tố có hay không có sự tranh chấp giữa các đương sự về quyền và lợi ích4. Từ quy định tại Điều 1 BLTTDS 2015 thì vụ án dân sự là những vụ việc dân sự có tranh chấp phát 3 Trần Thị Quỳnh Châu, “Một số vướng mắc, tồn tại trong thực tiễn thực hiện quy định về người đại diện theo ủy quyền của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành”, Tạp chí Công thương, số 13/2018, tr. 4 Nguyễn Thị Hồng Nhung, Huỳnh Thị Nam Hải, tlđd, tr. 9 sinh giữa các đương sự, còn việc dân sự là việc riêng của tổ chức, cá nhân, không có tranh chấp.
Chính vì sự khác biệt đó mà thủ tục tố tụng và thành phần tham gia của vụ án dân sự đa dạng hơn, phức tạp hơn so với việc dân sự. BLTTDS 2015 đã liệt kê và đưa ra định nghĩa rất rõ về từng loại đương sự trong vụ án dân sự tại Điều 68, theo đó: “1. Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. … Nguyên đơn trong vụ án dân sự là người khởi kiện, người được cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do Bộ luật này quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Cơ quan, tổ chức do BLTTDS quy định khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách cũng là nguyên đơn. Bị đơn trong vụ án dân sự là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, cá nhân khác do BLTTDS quy định khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án dân sự là người tuy không khởi kiện, không bị kiện, nhưng việc giải quyết vụ án dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc các đương sự khác đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.” Xét về tính độc lập và chủ động của các đương sự trong vụ án dân sự có thể thấy rằng, đối với nguyên đơn, việc tham gia tố tụng mang tính chất chủ động nhất. Bởi lẽ, chính hành vi tố tụng của nguyên đơn đã làm phát sinh, thay đổi hay có thể chấm dứt quá trình tố tụng.
Còn đối với bị đơn, họ tham gia tố tụng vì bị nguyên đơn 10 khởi kiện. Do đó, bị đơn thường bị động trong hoạt động tố tụng nên pháp luật dành cho họ những khoản thời gian nhất định hợp lý để có thể đáp ứng yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Tuy nhiên, những hành vi tố tụng của bị đơn cũng có thể làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ dân sự. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, việc tham gia tố tụng của có thể do họ chủ động, hoặc theo yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn, hoặc theo yêu cầu của Tòa án do họ có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án dân sự đang giải quyết.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm 2 loại: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập5. Thứ nhất, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập với nguyên đơn và bị đơn. Trong vụ án dân sự, lợi ích pháp lý của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng độc lập luôn độc lập với lợi ích pháp lý của nguyên đơn, bị đơn nên yêu cầu của họ có thể chống cả nguyên đơn, bị đơn. Thứ hai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng không độc lập là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng phụ thuộc vào nguyên đơn hoặc bị đơn.
Do đó, khi tham gia tố tụng, lợi ích pháp lý của họ phụ thuộc vào lợi ích pháp lý của nguyên đơn hoặc bị đơn. Tuy nhiên, họ vẫn có quyền quyết định trong phạm vi quyền lợi của mình. Do những nhà lập pháp của Việt Nam có sự học hỏi kỹ thuật lập pháp của Trung Quốc nên có thể dễ dàng tìm thấy sự giống nhau trong quy định về đương sự giữa hai BLTTDS của hai nước. Mặc dù trong Chương V BLTTDS Trung Quốc không có những quy định mang tính liệt kê như BLTTDS của nước ta về những người tham gia tố tụng nhưng có quy định mọi công dân, pháp nhân hoặc bất kỳ tổ chức nào khác đều có thể trở thành một bên trong vụ kiện dân sự.
Pháp nhân do người đại diện hợp pháp của họ trong tố tụng, các tổ chức khác sẽ được đại diện bởi những người 5 Xem Điều 73 BLTTDS 2015. 11 phụ trách chính của họ trong quá trình tố tụng6. Đồng thời cũng gọi tên các đương sự trong vụ án dân sự gồm có: nguyên đơn, bị đơn và bên thứ ba7. Các quy định về hành vi pháp lý, quyền và nghĩa vụ của đương sự tương tự với BLTTDS của Việt Nam.
Đương sự trong việc dân sự Do BLTTDS có sự phân định rạch ròi giữa vụ án dân sự và việc dân sự nên cũng có sự phân biệt giữa đương sự trong vụ án và đương sự trong việc dân sự. Mục 1 Chương VI BLTTDS 2015 quy định cụ thể về đương sự trong vụ việc dân sự, trong đó có những khái niệm hết sức cụ thể về đương sự trong vụ án dân sự và việc dân sự. Ngược lại, khó có thể tìm thấy sự phân định cụ thể giữa vụ án dân sự và việc dân sự trong BLTTDS Trung Quốc và Nhật Bản như pháp luật tố tụng của Việt Nam. Xét trên khía cạnh nào đó, việc không phân biệt giữa hai loại đối tượng này có thể ảnh hưởng đến việc xác định tư cách tố tụng của họ.
Theo quy định tại Điều 361 BLTTDS 2015, việc dân sự được hiểu là “cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động…”8. Việc dân sự là việc riêng của cá nhân, tổ chức không có nguyên đơn, bị đơn mà chỉ có người yêu cầu giải quyết việc dân sự. Tòa án có thể công nhận hoặc không công nhận quyền và nghĩa vụ dân sự của họ trên cơ sở “công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự” đó9. Theo quy định tại khoản 5 Điều 68 BLTTDS thì “người yêu cầu giải quyết việc dân sự là người yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh 6 Xem Điều 49 BLTTDS Trung Quốc.
7 Xem Điều 52, Điều 56 BLTTDS Trung Quốc. 8 Xem Điều 361 BLTTDS 2015. 9 Xem Điều 311 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011. 12 doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động”.
Khoản 6: “Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự là người tuy không yêu cầu giải quyết việc dân sự nhưng việc giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự trong việc dân sự đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp giải quyết việc dân sự có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc dân sự”. Trong mỗi vụ việc dân sự, số lượng, thành phần những người tham gia tố tụng dân sự có thể khác nhau. Việc tham gia tố tụng của họ tuy bị chi phối bởi các cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng nhưng vẫn có ảnh hưởng rất lớn đến tố tụng dân sự.
Khái niệm, đặc điểm của kháng cáo và quyền kháng cáo của đương sự trong tố tụng dân sự 1.