CHƯƠNG I NHÂN QUYEN - DOI TƯỢNG DIEU CHỈNH CUA HIẾN PHÁP 1. Khái quát về nhân quyền 1. Khai niém VỆ quyén con người Theo Dai từ điển tiéng Việt của Viện Ngôn ngữ hoc, thuật ngữ human rights trong tiếng Anh có thé được dịch thuần việt là guyén con người hoặc đồng nghĩa Hán — Việt là nhân quyền. Quyền con người là một vấn đề khá phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý.
Chính vì vậy, hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người theo những góc độ khác nhau. Một định nghĩa rất phố biến thường được trích dẫn bởi các học giả theo học thuyết quyền tự nhiên: Quyên con người là những quyên cơ bản, không thể tước bỏ mà một người von được thừa hưởng don giản vì họ là con người. Theo một tài liệu năm 1994 của Liên Hợp Quốc, United Nations: Human rights: Question and Answer, có đến gan 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố”. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định, nhưng không định nghĩa nào bao hàm được tât cả các thuộc tính của quyên con người.
Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về quyền con người phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vé các cá nhân và các nhóm chong lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ ' Viện Ngôn ngữ học (1999), Dai tr điển Tiếng Việt, nhà xuất bản Văn hóa, thông tin. ? Untied Nations: Human Rights: Question and Answer, Geneva, 1994 mặc (omissions) ma lam tôn hại đên nhân phâm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người”. Ở Việt nam, một số định nghĩa về quyền con người do một số chuyên gia, cơ quan nghiên cứu từng nêu ra cũng không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Như vậy, nhìn ở góc độ nào và ở cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ. Những chuẩn mực này kết tỉnh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm va mới có điều kiện phát triển đầy đủ năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Cho dù cách nhìn nhận có những khác biệt nhất định, một điều rõ ràng là quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội va trong mọi giai đoạn lịch str’.
Tinh chất co bản của quyền con người Các nguyên tắc của quyền con người (human rights principles) hay còn gọi là các tính chất cơ bản của quyền con người, theo nhận thức chung của cộng đồng quốc tế thể hiện trong cuốn United Nations: UN common understanding on human rights — based approaches to development, bao gồm: tính phố biến (universal), tính không thé chuyển nhượng (tước đoạt) (inalienable), tính không thé phân chia (indivisiable) và tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent). 3 Unti ted Nations, UNHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights-Based Approach to Development Cooperation, New York and Geneva, 2006, tr,8. * Trong một cuộc kháo sát do CNN — một trong các cơ quan truyền thông tiễn hành, quyền con người được xem là một trong mười phát mình làm thay đổi thé giới (cùng với nông nghiệp, phântâm học, thuyết tương đối, vắc xin, thuyết tiến hóa, mạng thông tin toàn cầu (world wide web), xà phòng, số không, và lực hấp dẫn) — CNN: “Ten ideas that changed the world”, 2005. 10 a) Tinh pho biến (universal) Thông qua ban Tuyên ngôn toàn thé giới về quyền con người, tinh phổ biến của quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa nhận thể hiện ở chỗ quyền con người là những gi bam sinh, vốn có của con người.
Quyền con người được áp dụng bình đắng cho mọi người, không có sự phân biệt đối xử bởi bat kỳ ly do nào về chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, thành phan xuất thân. Như vậy, quyền con người là một giá trị chung của nhân loại, là mục đích vươn tới của nhân loại. Xét về nguồn gốc tự nhiên, quyền con người là những giá trị vốn có và chỉ tồn tại ở loài người. Những tư tưởng về quyền “tự nhiên”, “trời phú” cho con người ngay từ khi con người xuất hiện đã có từ thời cô đại.
Từ thời Hy lap cô đại, nhà triết học Zeno (334-264 TCN) đã phát biéu rang, không ai sinh ra đã là nô lệ hết cả, địa vị nô lệ là do họ bị tước đoạt tự do vốn có của con người. Rõ ràng ở đây Zeno đã đề cập đến quyền là một người tự do với ý nghĩa là một quyền bam sinh của con người. Tư tưởng này sau đó được nhiều triết gia tai khang định và phát triển, trong đó tiêu biểu nhất là Thomas Hobbes (1588-1679), John Locke (1632-1704) va Thomas Paine (1731-1809). - Thomas Hobbes với cuốn sách Leviathan viết năm 1658.°, đã đưa ra quan điểm lý thuyết về khế ước xã hội với các nguyên tắc cơ bản của tư tưởng tự do châu Âu: quyền được bầu cử của các cá nhân, quyền bình đăng tự nhiên của tất cả mọi người, tính nhân tạo cua địa vị chính trị, quan điểm tất cả quyên lực chính trị hợp pháp phải mang tính “đại điện” và dựa trên sự đồng thuận của nhân dân, và sự diễn giải luật cho phép mọi người được làm bất cứ điều gì mà pháp luật không cam.
- John Locke cũng như Hobbes, trong các tác phẩm của mình”, ông quan niệm, trong trạng thái tự nhiên, tất cả mọi người đều bình đăng và độc lập, không ai có quyên làm tổn hại đến người khác và mọi người đều có quyền trừng phạt kẻ vi phạm (Luận thuyết thứ hai về chính quyền — Secon Tract of Government) > Xem Thomas Hobbes, Leviathan (1,XIV), 1658 ® Xem John Locke: An Essay Concerning Human Understanding, 1690; Second Tract of Government, 1662; Questions Concerning the Law of Nature, 1664. 11 - Triết học gia người Anh, Thomas Paine, với tác phẩm nỗi tiếng Các quyền của con người — Rights of Man, 1791, thì nhắn mạnh rằng các quyền không thể được ban phát bởi bất kỳ chính phủ nào, bởi lẽ điều đó đồng thời cho phép các chính phủ được rút lại các quyền ấy theo ý chí của họ. Như thế, Thomas Paine đã gián tiếp khăng định rằng các quyền của con người là những giá trị tự nhiên. Phát triển những tư tưởng về quyền con người ở các nhà triết học ở thời kỳ này, người Anh đã cụ thé hóa trong Luật về các quyền ở Anh năm 1689.
Trong cuộc cách mạng tư sản ở Mỹ, Tuyên ngôn độc lập năm 1776 đã thống nhất với cách nhìn nhận về quyền con người của John Locke: “Moi người sinh ra déu có quyên bình dang. Tạo hóa cho họ những quyên không ai có thể xâm phạm được, trong những quyên đó có quyên được sống, quyên tự do và A A X i 997 quyên muu cau hành phúc. Khác với người Mỹ, trong cuộc cách mạng tư sản của mình năm 1789, người Pháp công bố Tuyên ngôn Nhân quyên va dân quyền, một văn bản mang đầy dấu ấn của các học thuyết về nhân quyền của thời kỳ này, theo đó, con người sinh ra đều sống tự do và bình dang về quyền và phải luôn được tự do và bình dang về quyền loi’. Hai bản văn kiện này đã có ảnh hưởng sâu rộng không chỉ ở hai nước này mà còn trên toàn thé giới về sự phát triển của quyền con người cũng như đặt nền móng cho quá trình lập pháp về quyền con người trong hệ thống văn bản pháp luật của quốc gia và trong các văn bản pháp luật quốc tế.
Sau này, Hoa Kỳ đã cam kết tôn trọng và thực hiện bảo về quyền con người thông qua việc cụ thể hóa các quyền đã được ghi nhân trong mười Tu chính án Hiến pháp, Hiến pháp của Pháp năm 1791 cũng có những quy định bảo đảm các quyên con người đã được nêu trong Tuyên ngôn Nhân quyên và Dân quyên. "Thuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ (1998), Lời nói đầu, bản tiếng Việt trong Các văn kiện quốc té về quyễn con người, nhà xuất bản Chính trị quôc gia, Hà Nội `1uyên ngôn Nhân quyên và Dán quyền của cách mạng Pháp (1998), bản tiếng Việt trong Các văn kiện quốc tế về quyên con người, nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội 12 Học thuyết về quyền con người và những cơ sở lý luận cơ bản về quyền con người đã được phát triển sớm trong điều kiện tự nhiên — xã hội của phương tây và quyên con người đã được ghi nhận trong nhiều văn kiện chính trị — pháp lý khác nhau. Quyền con người trong các văn kiện chính trị — pháp lý đó là sản pham của các điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thé, nên van còn ton tại những hạn chế nhất định. Để quyền con người tiến tới là một giá trị chung của nhân loại, kế thừa những tính hoa của những tư tưởng Cận đại và vượt lên trên những hạn chế của các văn kiện vừa nêu trên, Liên hợp quốc đã bàn bạc, xây dựng và công bố Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948, sự khởi đầu của ngành luật quốc tế về quyền con người.
Bản Tuyên ngôn là thỏa thuận pháp lý quốc tế đầu tiên về quyền con người, được đại đa số các nước chấp nhận, ký kết, thông qua, thừa nhận tính phổ quát của các quyền con người, dựa trên việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình dang của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là nền tảng của tự do, công lý và hòa bình thế giới. Đây là thành quả của sự phát triển, sự tiến bộ và văn minh của lịch sử nhân loại, không chỉ mang tính tất yếu khách quan mà còn thể hiện nguyện vọng chủ quan của con người trên toàn thé giới, ai cũng có quyền tồn tại, có quyền phát triên và có quyên mưu câu hạnh phúc.