Khóa luận tốt nghiệp luật học quyền an tử của cá nhân một số vấn đề lý luận và thực tiễn

Khóa luận tốt nghiệp luật học phân tích quyền an tử của cá nhân, những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan trong pháp luật hiện nay.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

94
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và lịch sử hình thành quyền an tử

Quyền an tử là một vấn đề pháp lý và đạo đức phức tạp đang được các quốc gia trên thế giới thảo luận. An tử (euthanasia) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp cổ đại, có nghĩa là "cái chết êm đềm". Thuật ngữ này được sử dụng để mô tả việc kết thúc cuộc sống của một người đang chịu đựng từ những bệnh tật nan y. Lịch sử hình thành quyền an tử gắn liền với sự phát triển của các quan niệm nhân quyền và tự quyết định cá nhân. Từ thế kỷ XX, với những thay đổi lớn trong nhận thức khoa học và xã hội, vấn đề quyền an tử đã dần được công nhận ở nhiều quốc gia phát triển. Các nước như Canada, Hà Lan, và Bỉ đã tiên phong trong việc hợp pháp hóa hành động này. Tuy nhiên, do sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo và chính trị, quan điểm về quyền an tử của cá nhân vẫn còn gây tranh cãi lớn trên thế giới.

1.1. Khái niệm cơ bản về an tử

An tử là hành động hoặc quá trình kết thúc cuộc sống của một người đang mắc bệnh tật nan y hoặc đau đớn. Có hai loại chính: an tử tích cực (active euthanasia) là khi bác sĩ chủ động sử dụng các biện pháp y tế để kết thúc sự sống; và an tử tiêu cực (passive euthanasia) là khi rút bỏ các biện pháp y tế kéo dài sự sống. Khái niệm này nhấn mạnh sự lựa chọn tự do của cá nhân và quyền tự quyết định về cuộc sống của chính mình.

1.2. Định nghĩa quyền an tử

Quyền an tửquyền con người được công nhận pháp lý để lựa chọn kết thúc cuộc sống của mình một cách có nhân bản khi gặp phải bệnh tật không curable. Đây là một phần của quyền tự quyết định - nguyên tắc cốt lõi của luật nhân quyền hiện đại. Quyền này đòi hỏi sự chấp thuận rõ ràng, tự nguyện, và có đầy đủ thông tin từ cá nhân trước khi thực hiện.

II. Pháp luật nhân quyền quốc tế về quyền an tử

Pháp luật nhân quyền quốc tế cung cấp nền tảng pháp lý cho cuộc tranh luận về quyền an tử. Các công ước quốc tế như Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR)Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền (UDHR) được cho là có thể hỗ trợ lập luận về quyền tự quyết định. Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền công nhận quyền con người được sống với tự do và nhân phẩm. Tuy nhiên, các công ước này không có quy định rõ ràng về quyền chết. Các quốc gia phải cân nhắc giữa bảo vệ quyền sống và tôn trọng tự quyết định cá nhân. Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thừa nhận rằng cấm chung quyền an tử có thể vi phạm quyền riêng tư, nhưng không có yêu cầu bắt buộc các quốc gia phải hợp pháp hóa nó.

2.1. Các quy định trong công ước quốc tế

ICCPR công nhận quyền sống nhưng cũng bảo vệ quyền riêng tư cá nhân. Các quốc gia theo pháp luật nhân quyền quốc tế phải cân bằng giữa bảo vệ sự sống và tôn trọng tự quyết định cá nhân. Không có hiệp ước quốc tế nào cấm an tử, nhưng cũng không có hiệp ước nào yêu cầu hợp pháp hóa nó.

2.2. Quan điểm của Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc

Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã công nhận rằng quyền an tử liên quan đến quyền riêng tư. Cấm chung quyền an tử có thể được xem là vi phạm quyền riêng tư, nhưng các quốc gia vẫn có quyền quy định các điều kiện cụ thể cho việc hợp pháp hóa.

III. Thực tiễn pháp luật ở các quốc gia tiên phong

Nhiều quốc gia đã tiên phong trong việc hợp pháp hóa quyền an tử. Canada thực hiện Medical Assistance in Dying (MAID) - Luật hỗ trợ y tế khi chết - cho phép người mắc bệnh tật não y kết thúc cuộc sống. Hà Lan và Bỉ là những nước đầu tiên ở Âu Châu hợp pháp hóa an tử. Thụy Sĩ cho phép an tử trong các điều kiện nhất định. Các quốc gia này đều có những quy định chặt chẽ bao gồm: xác nhận tính chất không thể chữa khỏi của bệnh, sự chấp thuận rõ ràng từ bệnh nhân, và sự tham gia của các chuyên gia y tế. Hoa Kỳ có các tiểu bang khác nhau có luật khác nhau, một số cho phép an tử có hỗ trợ y tế. Những nước này đã chứng minh rằng có thể xây dựng các khung pháp lý an toàn để bảo vệ quyền cá nhân trong khi ngăn ngừa các lạm dụng.

3.1. Mô hình hợp pháp hóa toàn diện

Hà Lan, Bỉ và Canada áp dụng mô hình hợp pháp hóa toàn diện cho quyền an tử. Những quốc gia này yêu cầu: chẩn đoán chính xác bệnh tật không curable, sự chấp thuận lặp lại từ bệnh nhân, tư vấn từ các bác sĩ độc lập, và thời gian chờ đợi. Luật MAID của Canada mở rộng phạm vi để bao gồm cả những người có bệnh tâm thần.

3.2. Mô hình hợp pháp hóa một phần

Thụy Sĩ và một số tiểu bang Mỹ cho phép an tử có hỗ trợ thuốc. Bệnh nhân phải tự thực hiện hành động cuối cùng. Mô hình này hạn chế sự tham gia của nhân viên y tế, giảm thiểu lo ngại về trách nhiệm pháp lý trong khi vẫn tôn trọng quyền tự quyết định.

IV. Tình hình pháp luật Việt Nam và kiến nghị xây dựng khung pháp lý

Tại Việt Nam, quyền an tử vẫn chưa được công nhận và hợp pháp hóa. Hiến pháp Việt NamBộ Luật Dân Sự (BLDS) không có quy định rõ ràng về vấn đề này. Bộ Luật Hình Sự (BLHS) coi việc kết thúc cuộc sống người khác là tội giết người, ngay cả khi được yêu cầu. Tuy nhiên, với nhu cầu thực tiễn ngày càng tăng từ những bệnh nhân mắc bệnh tật nan y, Việt Nam cần xem xét xây dựng khung pháp lý phù hợp. Kiến nghị bao gồm: nâng cao nhận thức công cộng về quyền an tử, sửa đổi các luật hiện hành, thiết lập các tiêu chí y tế nghiêm ngặt, và thành lập các cơ quan giám sát độc lập. Mô hình pháp luật nên được xây dựng dựa trên kinh nghiệm của các quốc gia tiên phong, phù hợp với bối cảnh văn hóa và xã hội Việt Nam.

4.1. Nhu cầu pháp lý hiện tại ở Việt Nam

Nhu cầu thực tiễn về quyền an tửViệt Nam là rõ ràng, đặc biệt đối với các bệnh nhân mắc bệnh ung thư, HIV/AIDS và các bệnh tật không curable khác. BLDS hiện không quy định về quyền tự quyết định kết thúc sự sống. Kiến nghị là cần phải sửa đổi pháp luật để công nhận quyền an tử trong các điều kiện cụ thể, bảo vệ cả bệnh nhân lẫn nhân viên y tế.

4.2. Các giải pháp xây dựng khung pháp lý

Giải pháp đề xuất bao gồm: (1) nâng cao nhận thức qua giáo dục công cộng, (2) sửa đổi BLHS và BLDS, (3) thiết lập tiêu chí y tế chặt chẽ tương tự Canada và Hà Lan, (4) thành lập hội đồng đạo đức y tế giám sát, và (5) đào tạo chuyên gia về an tử từ nhân đạo. Mô hình này sẽ bảo vệ quyền cá nhân đồng thời ngăn ngừa lạm dụng.

11/12/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUAN VE QUYEN AN TU CUA CÁ Ộ NHÂN ; 1. Khai quát về lich sử hình thành quyên an tử Quyền an tứ bắt nguồn từ những khái niệm pháp lý sơ khai đến những tranh luận phức tạp trong hệ thống pháp luật hiện đại và đã dần được định hình một cách chính thống, rd nét qua thời gian. Từ lâu, đối với người làm nghề y thì “Lời thé Hippocrates” đã trở thành kim chỉ nam đạo đức với cam kết bảo vệ sự sống và tránh gây hại cho bệnh nhân. Mặc dù “Ldi thé Hippocrates” có điều: “Tôi sẽ không trao thuốc độc cho bắt kỳ ai, kế cả khi họ yêu cầu và cũng không tự mình gợi ý cho họ” nhưng gần như không có người hành y nào ở Hy Lạp và La Mã cé đại (thế kỷ V đến thế ky LTCN) tuân thủ chặt chẽ lời thé nay.

Trong suốt thời cô đại, có sự ủng hộ rộng rãi cho cái chết tự nguyện thay vì đau đớn kéo dài và các bác sĩ đã tuân thủ bằng cách thường xuyên đưa cho bệnh nhân của họ những chất độc mà họ yêu cầu. Người Hy Lạp và La Mã đã tranh luận về đạo đức của việc thúc đây cái chết cho những người mắc bệnh hiểm nghèo. Niềm tin tôn giáo cô xưa thường ảnh hưởng đến quan điểm, định hình các lập trường văn hóa ban đầu. Những cuộc tranh luận ban đầu này đã đặt nền móng cho những cuộc thảo luận sau này.

Ở phương Tây, một số bộ lạc nguyên thủy thường giết hoặc chôn người bệnh Và người già để đảm bảo sự sông và sức khỏe của họ, nhằm giảm bớt đau khổ cho người bệnh và gánh nặng cho bộ lạc. Nhà triết học Hy Lạp cô đại Plato tin rằng thật vô đạo đức khi các bác sĩ kéo dài sự đau khổ của những bệnh nhân bệnh nặng, những người cuối cùng sẽ chết, và ông chấp thuận những bệnh nhân không thể chịu đựng được nỗi đau và sự đau khổ dé kết thúc cuộc sống của chính mình. Để đảm bảo sức khỏe và hiệu quả chiến đấu của binh lính, người Sparta còn có tục lệ xử tử những đứa trẻ sơ sinh mắc bệnh bam sinh hoặc khuyết tật về thé chất. Ở các nước phương Đông, đặc biệt là những nước chịu ảnh hưởng của Phật giáo, người ta tôn thờ cái chết tự nhiên.

"Niết bàn" và "ngồi thiền" là những cách chết mà Phật tử theo đuổi. ! Đến tận thế ky I sau công nguyên, cụ thé năm 121 thuật ngữ “an tử” mới xuất hiện lần đầu tiên trong tác phẩm De Vita Caesarum — Divus Augustus (Cuộc đời các Caesar — Con thần Augustus) của sử gia Gaius Suetonius Tranquillus. Ông miêu ta HEE, (2021), “FEMA 2EBCRIIS RR EPCS BS”, lRT Kip,(10), AB: 8. 5 cái chết nhẹ nhàng của Augustus Caesar, khi ngài qua đời trong lúc hôn vợ mình, Livia, và thốt ra lời cuối: “Hãy luôn nhớ đến cuộc hôn nhân của chúng ta, Livia, và vĩnh biệt”.

Ngai từng mong muốn có một cái chết êm ái và thường cầu nguyện dé được ra đi như vay.” Sự trỗi dậy của Kitô giáo, với quan điểm cho rằng sự sống của con người là sự ủy thác của Chúa, đã củng cố quan điểm của trường phái Hippocrates là cắm an tử. Từ thế ky XII đến XV, nó đã đạt đến đỉnh điểm khi ý kiến y khoa gần như nhất tri phán đối an tử. Có thể kế đến việc Thomas Aquinas lập luận răng tự sát và an tử đi ngược lại luật tự nhiên và luật thiêng liêng trong tác phẩm “Summa Theologica”. Cụ thể: “Tự sát hoàn toàn là điều bat hợp pháp vì ba lý do.

Thứ nhất, vì mọi thứ đều có xu hướng tự yêu quý bản thân và duy trì sự ton tại của chính minh, chong lại sự hủy diệt khi có thé. Do đó, tự sát đi ngược lại bản năng tự nhiên, và bat kỳ điều gì trái với luật tự nhiên đều là bất hợp pháp. Thứ hai, mỗi cá nhân là một phan của toàn thể, và mỗi con người là một phan của cộng đông. Do đó, khi một người tự sát, họ gây ton hại đến cộng đông.

Thứ ba, sự sống là món quà của Chúa ban cho con người và thuộc quyền lực của Ngài, Dang có quyên ban sự sống và lấy di sự sống. Vì vậy, bất kỳ ai tự sát đều phạm tội với Chúa. "3 Tuy vậy, không thể bỏ qua những quan điểm tích cực ủng hộ an tử cũng đã xuất hiện trong giai đoạn này. Trong tác phâm Utopia (1516), nhà tư tưởng người Anh Thomas More đã đề cập đến vấn đề an tử, cho rằng nó là hợp pháp trong trường hợp bệnh nan y, nhưng chỉ khi có sự “cho phép” của các linh mục và quan chức: “Khi ai đó mắc phải cơn dau dit dội và kéo dài đến nuức không còn hy vọng phục hồi hay giảm bot dau đớn, các tu sĩ và quan chức sẽ đến khuyên nhủ họ rằng, vì họ không còn khả năng tiếp tục cuộc sống, trở thành gánh nặng cho bản thân và những người xung quanh, và thực tế đã sống quá lau so với chính minh, thì không nên tiếp tục nuôi dưỡng căn bệnh tram trọng do nữa, mà thay vào đó nên chọn cải chết tự nguyện, bởi vì họ không thể sống mà không chịu đựng dau khổ.

Họ được đảm ? Nguyễn Mai Chi (2014), Quyên an tử - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật — Đại học Quốc gia Hà Nội. 3 Thomas Aquinas, (1265-1274), Summa Theologica, Christian Classics. 6 bảo rằng nếu tự giải thoát mình khỏi sự dày vò, hoặc sẵn sàng để người khác giúp đỡ, ho sẽ được hạnh phúc sau khi chét. Trong đó ông phân biệt giữa “euthanasia interior" (chuẩn bị tinh thần cho cái chết) và "euthanasia exterior" (giúp bệnh nhân chết nhẹ nhàng và không đau đớn).

Bacon nhấn mạnh rằng nhiệm vụ của bác sĩ không chỉ là chữa bệnh mà còn phải giúp bệnh nhân có một cái chết êm dịu. Ong không ủng hộ việc chủ động kết liễu mạng sống, mà tập trung vào việc giảm đau và hỗ trợ bệnh nhân trong giai đoạn cuối đời, điều mà ngày nay được gọi là chăm sóc giảm nhẹ. Quan điểm của Bacon đã mở ra một hướng tiếp cận nhân văn hơn về cái chết trong y học, đặt nền móng cho các cuộc thảo luận về an tử và chăm sóc giảm nhẹ trong những thé kỷ sau. Đến thé kỷ XVII -XVIII, các nhà văn thời Phục hưng va Cải cách thách thức sự phan đối của Giáo hội đối với an tử.

Không có cuộc tháo luận nghiêm túc nào về an tử còn có thê điễn ra ở châu Âu theo đạo Thiên chúa cho đến thời kỳ Khai sáng vào thé ky XVIII. Đột nhiên, các nhà văn đã tấn công vào giáo lý có thâm quyền của nhà thờ về mọi vấn đề, bao gồm an tử và hỗ trợ tự tử. Trong khi các nhà văn thách thức thấm quyền của nhà thờ liên quan đến các vấn đề đạo đức, thì không có sự quan tâm thực sự rộng rai nào đối với các van dé về an tử hoặc tự tử có sự hỗ trợ của bác sĩ trong thời gian đó. Cuối thế kỷ XVIII, những người theo đạo Tin lành Mỹ phản đối việc trợ tử và an tử.

Các phong trào phục hưng tôn giáo, bắt đầu từ Đại Tỉnh thức vào giữa những năm 1700 đã can trở sự ủng hộ đối với an tử. Dai Tinh thức lần thứ hai vào đầu thé kỷ XIX tiếp tục củng có sự lên án đối với những hành vi này. Dù nhiều tiểu bang hợp pháp hóa an tử sau Chiến tranh Cách mạng, phần lớn người Mỹ vẫn phản déi nó. Năm 1828, New York ban hành luật quy định an tử là bat hợp pháp.

Từ 1857-1865, Uy ban New York do Dudley Field lãnh đạo soạn thảo luật hình sự câm trợ giúp tự tử. *'Thomas More (1684), Utopia, trans. Burnet, Richard Chiswell, London, pp. 7 Đến cuối thế kỷ XIX, an tử và trợ tử đều bị hình sự hóa ở hầu hết các bang, với luật được ban hành tại Lãnh thé Dakota (1877) và New York (1881).5 Những năm 1870, Samuel Williams công khai ủng hộ việc sử dung morphine và các loại thuốc khác để an tử, không chỉ để giảm đau mà còn để chủ động kết thúc sự sống.

Đề xuất của ông thu hút sự chú ý trong giới y khoa, nhưng hầu hết các bác sĩ vẫn phản đối, cho rằng thuốc giảm đau chí nên được dùng để giảm đau chứ không phái để đây nhanh cái chết. Khi các vụ việc và cuộc thảo luận về an tử tiếp tục xuất hiện, phong trào hợp pháp hóa an tử cuối cùng đã kết hợp với phong trào nhân quyền vào đầu thé kỷ XX và chính thức bước vào giai đoạn lịch sử. "Ủy ban hợp pháp hóa an tử" đầu tiên xuất hiện ở Anh năm 1935, sau đó là các tổ chức tương tự ở Hoa Kỳ, Pháp, Đan Mạch, Thụy Điển, Hà Lan và các quốc gia khác. Nhưng phong trào an tứ sớm phải chịu sự phản đối khi Đức Quốc Xã trỗi đậy và thực hiện tội diệt chủng đối với các chủng tộc không phải người Đức.

Trong Thế chiến II, dựa trên học thuyết ưu sinh và lý tưởng về một chủng tộc thuần chủng (Aryan), Đức Quốc Xã đã thảm sát có hệ thống 6 triệu người mắc các bệnh mãn tính, bệnh di truyền và bệnh tâm than, cũng như người Do Thái, người Digan và các nhóm dân tộc khác dưới danh nghĩa "an tử" và "cái chết trong danh dự". Từ năm 1938, khi những kẻ phát xít lạm đụng biện pháp an tử, cho đến cuối những năm 1950, biện pháp an tử đã bị mắt uy tín và việc thảo luận về nó gần như biến mat. Ké từ những năm 1960, với sự hồi sinh của làn sóng cách mạng y tế thứ ba do Cách mạng Công nghiệp mang lại, cuộc thảo luận về việc hợp pháp hóa cái chết êm địu đã tái điễn. Năm 1960, có người đề xuất Dự luật An tử tại Quốc hội Anh; năm 1962, Tòa án Tối cao Nhật Bản quy định rằng các quy định cho phép chết sớm phải tuân theo các điều kiện tiên quyết: người đó tự nguyện và nộp đơn, bác sĩ chân đoán bệnh nhân mắc bệnh nan y, bệnh nhân vô cùng đau đớn và người thân đồng ý.

Năm 1969, một dự luật về an tử được tranh luận tại Quốc hội Anh đã nêu rõ: “Bác sĩ có quyền thực hiện an tử cho một bệnh nhân đủ điều kiện và dua ra tuyên bố". Các dự luật tương tự đã được các cơ quan lập pháp ở Idaho, Oregon và nhiều nơi khác tai 5 “Religious Perspectives on Euthanasia and Medical Aid in Dying.” Encyclopedia Britannica, https://www.com/procon/MAID-medical-aid-in-dying-debate/Religious-Perspectives-on- Euthanasia-and-Medical-Aid-in-Dying#ref395434, truy cập ngày 14/01/2025.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ