Đặt vấn đề Son môi là một sản phẩm mỹ phẩm có chứa bột màu, dầu, sáp, chất làm mềm da có tác dụng tô thoa màu sắc, tạo bề mặt và bảo vệ đôi môi. Nhiều màu sắc và kiểu loại son môi tồn tại. Như với hầu hết nhiều loại mỹ phẩm, son môi khá phổ biến, nhưng không phải độc quyền dành cho phái nữ. Việc sử dụng son môi đã tồn tại từ thời Trung Cổ.
Một số son môi cũng là chất dưỡng môi, để gia tăng màu sắc và độ ẩm. Đàn ông và phụ nữ cổ đại có thể là những người đầu tiên phát minh và thoa son môi. Khoảng 5000 năm trước họ nghiền đá quý để sử dụng chúng và trang trí khuôn mặt, chủ yếu trên môi và xung quanh mắt. Khoảng năm 3500 trước công nguyên, nữ hoàng Schub-add người đầu tiên được cho là sử dụng son môi màu.
Bà đã làm đẹp cho đôi môi của mình bằng màu sắc được tạo ra từ chì trắng và đá đỏ nghiền vụn [20]. Ngày nay, cùng với sự phát triển của ngành mỹ phẩm thì các sản phẩm son môi ngày càng phong phú, đa dạng và đẹp mắt, là sản phẩm làm đẹp không thể thiếu của phái đẹp. Trong đó, ta chú ý đến loại sản phẩm son dưỡng môi. Son dưỡng môi, đây là loại son không thể không có dù bạn có sử dụng son môi thường xuyên hay không.
Cơ thể chúng ta luôn cần những chất dinh dưỡng, đôi môi cũng vậy. Son dưỡng môi chứa các thành phần như vitamin E, glycery, lô hội (hay còn gọi là nha đam), bơ hay dầu dừa, đây đều là những dưỡng chất quan trọng giúp giữ ẩm cho đôi môi và làm cho môi bạn mềm mại hơn. Đặc biệt, son dưỡng môi là vật bất li thân của những bạn hay bị môi khô và nứt nẻ. Tuy nhiên một nghiên cứu của nhóm người tiêu dùng Mỹ trong chiến dịch mỹ phẩm an toàn, trong tháng 10 năm 2007, phát hiện 60% son môi kiểm tra chứa một hàm lượng chì, đặc biệt là son môi đỏ.
Mức chất tạo màu quy định được cho phép dùng cho mỹ phẩm là không quá 20 ppm. Theo công bố năm 2011 của FDA về 400 loại son chứa lượng chì cao nhất (mức cho phép là dưới 20 ppm), nồng độ chì trung bình trong 400 thỏi son kiểm tra là 1,11 ppm (FDA,2011). Theo thời gian hàm lượng chì sẽ được tích lũy dần, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe con người. c 2 Chính vì vậy để giải quyết được những vấn đề trên, tôi muốn hướng tới làm son môi từ tự nhiên, tức là son môi chiết xuất từ rau quả, nói không với chì, phù hợp với sức khỏe con người.
Trên cơ sở chúng tôi đã tiến hành“ Nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất son môi sinh học dạng son dưỡng “ 1. Mục tiêu đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Xây dựng được quy trình sản xuất son môi sinh học từ tự nhiên, sản xuất thử nghiệm quy mô phòng thí nghiệm và cung cấp ra thị trường, phù hợp với mục đích của người tiêu dùng. Mục tiêu cụ thể - Tối ưu được quá trình tách chiết dầu gấc - Quy trình sản xuất son môi - Đánh giá chất lượng sản phẩm - Tạo sản phẩm mới 1.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 1.Ý nghĩa khoa học Tạo ra quy trình sản xuất son môi mới an toàn, không ảnh hướng tới sức khỏe người tiêu dùng.Ý nghĩa thực tiễn - Đa dạng hóa sản phẩm - Tạo sản phẩm son môi tự nhiên không ảnh hưởng đến người sử dụng. c 3 PHẦN 2:TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu chung về son môi 2. Lịch sử phát triển Đàn ông và phụ nữ Sumer cổ đại có thể là những người đầu tiên phát minh và thoa son môi, khoảng 5.
Chúng được sử dụng và phổ biến bởi nữ hoàng Sumer Schub-ad. Dù lúc ấy son môi khá độc hại nhưng nó không thể cản được những người phụ nữ muốn sử dụng và trải nghiệm loại sản phẩm này [20]. Ở đế chế Hy Lạp, vào năm thứ 1000 trước Công Nguyên, gái mại dâm dùng son môi để phân biệt họ với những phụ nữ quý tộc. Tuy nhiên cho đến năm 700 trước Công Nguyên, phụ nữ Hy Lạp đã sử dụng son môi mà không quan tâm đến địa vị xã hội.
Người Ai Cập cổ đại tô son môi để phơi bày địa vị xã hội hơn là giới tính [20]. Nữ hoàng Cleopatra của Ai Cập người rất yêu thích trang điểm , bà thường tô môi màu đậm. Tương truyền rằng son môi được nữ hoàng thoa là một loại màu không độc hại làm bằng sáp ong pha trộn với bọ cánh cứng hoặc kiến nghiền nhỏ tạo nên màu đỏ son. Chất nhuộm màu môi bắt đầu phổ biến vào thế kỷ 16 tại Anh [21].
Dưới thời kỳ Nữ hoàng Elizabeth I, đôi môi đỏ tươi sáng và một khuôn mặt trắng bệch đã trở thành mốt thời thượng [22]. Nhưng trong suốt cả thế kỷ 19, việc sử dụng công khai mỹ phẩm đã không được chấp nhận ở Anh đối với phụ nữ đáng kính và chỉ những người có vị thế xã hội thấp như diễn viên và gái mại dâm dùng son môi. Dùng mỹ phẩm trang điểm được xem là trắng trợn và bất lịch sự [20]. Vào những năm 1850, các báo cáo xuất bản đã cảnh báo phụ nữ về sự nguy hiểm khi sử dụng chì trên khuôn mặt.
Đến cuối năm 1890, trang điểm được tuyên bố hợp pháp. Son môi trở nên phổ biến và có thể thấy chúng ở khắp mọi nơi [21]. Năm 2012, màu son sáng rõ nét trở thành xu thế lần nữa với màu sắc bão hòa như màu hồng, và cam [21]. Năm 2014 và đầu năm 2015 son môi màu nude đang trở thành mốt vô cùng phổ biến [22].
Khái niệm Son môi là một sản phẩm mỹ phẩm có chứa chất màu tự nhiên, sáp ong, dầu thực vật, vitamin E …, có tác dụng tô thoa màu sắc, tạo bề mặt và bảo vệ đôi môi [20]. Son dƣỡng môi 2. Đặc điểm Son dưỡng môi (còn gọi là chap-stick hay lip blam) giúp giữ ẩm và bảo vệ môi không bị khô nứt do sự tác động của môi trường, đặc biệt là khí hậu khô hanh vào mùa lạnh. Hầu hết, các thỏi son dưỡng đều chứa các thành phần như vitamin E, glyceri, lô hội, bơ hay dầu dừa…là những chất giúp đôi môi căng mọng và mềm mại hơn [21].
Thành phần Dầu dừa: Trong dầu dừa có chứa vitamin E, phenol và phytosterol là 3 chất chống oxy hóa tuyệt vời cho da. Hơn nữa dầu dừa còn có khả năng kháng và diệt khuẩn nhờ vào các chuỗi axit béo trung bình. Chúng giúp giữ ẩm, trẻ hóa làn da, làm mềm da, làm dịu da cháy nắng [20]. Sáp ong: Trong sáp ong có chứa các axit amin thúc đẩy sự phát triển và hồi phục của tế bào, các chuỗi axit béo trung bình có công dụng kháng khuẩn, và giúp nhanh lành vết thương, và các nhóm vitamin và khoáng chất giúp dưỡng da, giữ ẩm, làm mềm da, chống lão hóa và trị mụn.
Sáp ong nó đóng vai trò như một chất kháng sinh tự nhiên. Người ta còn sử dụng sáp ong trong các phương thuốc cổ truyền từ đầu những năm 300 trước công nguyên [21]. Vaselin: Vaseline là một trong những loại mỹ phẩm nằm trong top 5 mỹ phẩm tốt nhất thế giới. Sáp vaseline giúp bảo vệ da khỏi những tác động của thời tiết và nó ngăn cản sự mất nước của làn da, giúp cho các tế bào da tự củng cố và tái tạo từ bên trong, chống khô da, trị nứt nẻ, giúp hàn gắn những vết cắt nhỏ và những vết bỏng [22].2 Giới thiệu chung về gấc 2.
Nguồn gốc và đặc điểm Gấc có tên khoa học là Momordica cochinchinensis, họ bầu bí- Cucuurbitaceae. Gấc là cây hầu như chỉ mọc ở Việt Nam và gắn liền với văn hóa ẩm thực của người dân Việt Nam [19]. Gấc là loài cây thân thảo dây leo thuộc chi mướp đắng. Đây là một loại cây đơn tính khác gốc, tức là có cây cái và cây đực riêng biệt.
Cây gấc leo khỏe, chiều dài có thể mọc đến 15 mét. Thân dây có tiết diện góc. Lá gấc nhẵn, thùy hình chân vịt phân ra từ 3 đến 5 dẻ, dài 8-18 cm. Hoa có hai loại: hoa cái và hoa đực.
Cả hai có cánh hoa sắc vàng nhạt. Quả hình bầu dục, màu lá cây, khi chín chuyển sang màu đỏ cam, đường kính 15–20 cm. Vỏ gấc có gai rậm. Bổ ra mỗi quả thường có sáu múi.
Thịt gấc màu đỏ cam. Hạt gấc màu nâu thẫm, hình dẹp, có khía. Gấc trổ hoa mùa hè sang mùa thu, đến mùa đông mới chín. Mỗi năm gấc chỉ thu hoạch được một mùa.
Do vụ thu hoạch tương đối ngắn (vào khoảng tháng 12 hay tháng 1), nên gấc ít phổ biến hơn các loại quả khác. Gấc giàu các chất carotenoit và lycopen. Người ta phân biệt gấc nếp với gấc tẻ như sau: - Gấc nếp: quả to, vỏ mỏng, có nhiều hạt, gai thưa và to. Thịt quả màu vàng tươi, màng bao bọc quanh hạt có màu đỏ tươi, cùi dày.
Cây gấc nếp cho nhiều quả. - Gấc tẻ: quả nhỏ hơn gấc nếp, vỏ dày ít hạt, gai nhọn và thưa. Thịt quả có màu vàng nhạt, cùi mỏng [15]. Giá trị dinh dƣỡng của quả gấc Gấc là một loại cây quý, một loại đặc sản ở nước ta và là một sản phẩm trên thế giới [19].
Trong những năm trở lại đây những nghiên cứu khoa học đã khẳng định được giá trị cao với các thành phần: carotenoid, chất béo chưa bão hòa, vitamin E… Trong đó, gấc được coi là nguồn cung cấp β-caroten giàu nhất trong các loại rau quả.1: Giá trị dinh dƣỡng của gấc so với một số loại rau quả giàu carotenoid khác (Tính theo % khối lƣợng phần ăn đƣợc) Quả tươi Nước Protein Glucid Lipid Cellulose Tro β-caroten Gấc (màng đỏ) 77,0 2,1 10,5 7,9 1,8 0,7 25.100 Bí đỏ 92,0 0,3 5,6 0 0,7 0,8 900 Chuối tiêu 74,4 1,5 22,2 0,2 0,8 0,9 45 Bùi Minh Đức (2004) β-caroten là chất màu thuộc họ carotenoid. Tương tự carotenoid khác, β- caroten là chất màu tự nhiên (đặc trưng là màu vàng của củ cà rốt) tan trong chất béo, không tan trong nước, được tìm thấy chủ yếu trong thực vật [19]. β- caroten là một chất có hoạt tính cao hơn hẳn các dạng đồng phân khác của caroten (một hợp chất quan trọng thuộc nhóm carotenoid) như α-caroten, - caroten vì khi vào cơ thể β-caroten sẽ được chuyển hóa thành hai phân tử vitamin A dưới tác dụng của enzym carotenase. Còn các loại đồng phân khác nhau của caroten chỉ chuyển hóa thành một phân tử vitamin A.