Đặt vấn đề Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, theo số liệu thống kê sơ bộ của Tổng cục Hải quan trong năm 2017, các doanh nghiệp Việt Nam đã xuất khẩu hơn 8,3 tỷ USD thủy sản các loại, tăng 18% so với kết quả thực hiện trong năm 2016. Với kết quả này, thủy sản là nhóm hàng đứng thứ 6 trong số các nhóm hàng xuất khẩu chính của Việt Nam trong năm 2017. Hoạt động xuất khẩu thủy sản hàng năm đã mang về cho ngân sách nhà nước một khoản ngoại tệ rất lớn, rất quan trọng việc xây dựng và phát triển đất nước. Các sản phẩm được xuất khẩu ra nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, góp phần nâng cao vị trí của việt nam nói chung và ngành thủy sản Việt Nam nói riêng trên trường quốc tế.
Nghề nuôi trồng thủy sản ao hồ nhỏ đã phát triển mạnh. Hình thức nuôi chủ yếu hiện nay là lồng bè kết hợp khai thác cá trên sông, trên hồ. Hình thức này đã tận dụng được diện tích mặt nước, tạo ra việc làm tăng thu nhập, góp phần ổn định đời sống của những người trên sông và ven hồ. ở các tỉnh phía Bắc và miền trung, đối tượng nuôi chủ yếu là cá trắm cỏ, trắm đen, cá chép, cá rô phi đơn tính, cá điêu hồng,… quy mô lồng nuôi khoảng 12-24m³, năng suất 400-600kg/lồng.
Ngoài ra còn nuôi thêm một số loài cá đặc sản như cá chiên, cá lăng chấm, lăng đen, cá anh vũ, cá tầm, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao. Ở các tỉnh phía nam, đối tượng nuôi chủ yếu là cá ba sa, cá lóc, cá bống tượng, cá he. Quy mô lồng bè nuôi lớn trung bình khoảng 100- 150m3/bè, năng suất bình quân 15-20 tấn/bè. Không chỉ có hình thức nuôi cá lồng bè mà còn có loại hình nuôi cá trong ao hồ nhỏ.
Đây là một nghề truyền thống gắn với nhà nông, từ phong 2 trào ao cá Bác Hồ đến phong trào VAC. Xu hướng diện tích ao đang bị thu hẹp do nhu cầu phát triển xây dựng nhà ở. Đối tượng cá nuôi khá ổn định: trắm, chép, trôi, mè, trê lai, rô phi… nguồn giống sinh sản hoàn toàn chủ động. Năng suất cá nuôi đạt bình quân trên 3 tấn/ha.
Ngành thủy sản của tỉnh Thái Nguyên trong thời gian qua phát triển còn manh mún, nhỏ lẻ chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế sẵn có. Các đối tượng nuôi chính hiện nay là các loài cá truyền thống, hình thức nuôi chủ yếu bán thâm canh, quảng canh và quảng canh cải tiến nên năng suất còn thấp, sản lượng và giá trị mang lại chưa cao; điều kiện cơ sở hạ tầng còn nhiều hạn chế, trình độ kỹ thuật sản xuất của người dân chưa đáp ứng được yêu cầu; trong quá trình sản xuất dịch bệnh đã xuất hiện… dẫn đến hiệu quả sản xuất thủy sản mang lại vẫn còn thấp, chưa ổn định, phát triển biểu hiện thiếu bền vững. Trước năm 2006 nghề nuôi cá lồng trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên phát triển mạnh ở Thành Phố Sông Công, song từ năm 2006 trở lại đây do đối tượng nuôi là cá Trắm cỏ hay bị bệnh, hiệu quả kinh tế không cao và do đặc thù của các sông suối miền núi về mùa mưa nước chảy mạnh khó nuôi cá lồng, nên nghề nuôi cá lồng trong tỉnh không phát triển hiện nay chỉ còn một số hộ nuôi cá lồng trên các hồ chứa lớn như hồ Bảo Linh. Năm 2014 toàn tỉnh còn tổng số khoảng 30 lồng nuôi cá, đối tượng nuôi là chính là cá Trắm cỏ và Rô phi.
Cá Trắm Đen và cá Chiên là hai loài cá đặc sản trong nước ngọt, cá có hàm lượng dinh dưỡng cao, chất lượng thịt thơm ngon. Không những vậy cá Trắm Đen có nhiều tác dụng trong y học, được người dân ưa chuộng. Hiện tại cá Trắm đen được thả nuôi với mật độ rất thưa 1-2 con/sào ao và sử dụng thức ăn chính là ốc, lượng ốc có hạn chế trong ao nên không thả tăng lượng cá trắm đen được do đó lượng cá nuôi bằng phương phát truyền thống không tạo ra được nhiều sản phẩm. Còn cá Chiên là loài cá đặc sản tự nhiên, các khu 3 lồng nuôi cá Chiên chủ yếu do người dân nuôi tự phát chủ yếu nên chưa có trang bị đầy đủ kỹ thuật trong việc chăm sóc nuôi dưỡng cá do đó sản lượng cá Chiên sản xuất ra không cao.
Do vậy không đáp ứng được đòi hỏi nhu cầu thực phẩm ngày càng cao của người dân. Sản lượng cá Trắm Đen và cá Chiên trong tự nhiên đang bị giảm sút nghiêm trọng và có tên trong sách đỏ Việt Nam. Do đó nuôi cá Trắm Đen và cá Chiên thương phẩm theo hình thức thâm canh và bán thâm canh hiện đang được người nuôi quan tâm. Vì vậy, để hiểu biết thêm vế nuôi trồng thủy sản và khả năng thích nghi sinh trưởng của cá trắm đen, cá chiên tại Thái Nguyên, tôi xin tiến hành ứng dụng chuyên đề: Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng cá Trắm Đen và cá Chiên thương phẩm nuôi lồng tại hợp tác xã Thủy sản Núi Cốc.
Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích của chuyên đề - Đánh giá khả năng thích nghi và sinh trưởng của cá Trăm Đen, cá Chiên ở Hồ Núi Cốc. - Xác định tỷ lệ sống và sự phát triển của cá trong giai đoạn nuôi thương phẩm. - Bước đầu đánh giá hiệu quả kinh tế của nuôi thương phẩm cá Trắm Đen, cá Chiên khi nuôi theo hình thức lồng bè trên Hồ Núi Cốc 1.
Yêu cầu của chuyên đề - Nắm vững quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc cá Trắm Đen, cá Chiên thương phẩm. - Nắm vững kỹ thuật về chuẩn đoán và điều trị bệnh cho tính cá Trắm Đen và cá Chiên. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Điều kiện cơ sở thực tập 2.
Điều kiện tự nhiên và cơ sở vật chất của cơ sở thực tập 2. Điều kiện tự nhiên Thái Nguyên là một tỉnh miền núi thuộc vùng Trung Du Miền Núi Bắc Bộ (TDMNBB), có diện tích tự nhiên 353.Thái Nguyên có 6 huyện, 2 thành phố và 1 thị xã: - Phía Bắc giáp với Bắc Kạn - Phía Tây giáp với Vĩnh Phúc và Tuyên Quang - Phía Đông giáp với Lạng Sơn - Phía Nam giáp với Thủ đô Hà Nội và tỉnh Bắc Giang. Với vị trí địa lý như vậy, Thái Nguyên là trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội của vùng TDMNBB và là cửa ngõ giao lưu kinh tế - xã hội giữa vùng TDMNBB với vùng Đồng Bằng Sông Hồng (ĐBSH). Vị trí này đã và đang tạo điều kiện cho Thái Nguyên trở thành trung tâm kinh tế vùng TDMNBB thuận lợi cho việc giao lưu, tiêu thụ nông sản hàng hóa.
Địa hình tỉnh Thái Nguyên chủ yếu là đồi núi dốc, đặc biệt là khu vực phía Bắc, có nhiều sông, suối nhỏ thuộc hệ thống sông Cầu và sông Công. Khí hậu của tỉnh Thái Nguyên chia làm hai mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Theo số liệu của Tổng cục Khí tượng Thuỷ văn, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 1.500 mm, cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1. Nhiệt độ trung bình chênh lệch giữa tháng nóng nhất (28,9 oC- tháng 6) với tháng lạnh nhất (15,2oC- tháng 1) là 13,7oC.
Tổng số giờ nắng trong năm dao 5 động từ 1. Tổng tích ôn vượt 7.500oC, thời kỳ lạnh (nhiệt độ trung bình tháng dưới 18oC) chỉ trong 3 tháng. Với lượng mưa khá lớn, trung bình 1.500 mm, tổng lượng nước mưa tự nhiên của tỉnh Thái Nguyên dự tính lên tới 6,4 tỷ m3/năm. Tuy nhiên, lượng mưa phân bố không đều theo thời gian và không gian.
Theo không gian lượng mưa tập trung nhiều ở TP. Thái Nguyên, huyện Đại Từ, trong khi đó tại huyện Võ Nhai, Phú Lương lượng mưa tập trung ít hơn. Theo thời gian, lượng mưa tập trung khoảng 87% vào mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) trong đó riêng lượng mưa tháng 8 chiếm đến gần 30% tổng lượng mưa cả năm và vì vậy thường gây ra những trận lũ lụt lớn làm ảnh hưởng không nhỏ tới nuôi trồng thủy sản của tỉnh. Thái Nguyên không có nhiều hồ, trong đó Hồ Núi Cốc là hồ nổi bật, đây là hồ nhân tạo được hình thành do việc chặn dòng sông Công.
Hồ có độ sâu 35m và diện tích mặt hồ rộng 25km², dung tích của hồ ước tính từ 160 triệu - 200 triệu m³. Hồ được tạo ra nhằm mục đích cung cấp nước, thoát lũ cho sông cầu và du lịch. Hiện hồ đã có một vài khu du lịch đang được quy hoạch để trở thành khu du lịch trọng điểm quốc gia. Cơ sở vật chất của cơ sở thực tập Hợp tác xã bắt đầu hoạt động từ tháng 10/2016 đến nay hợp tác xã đã hoạt động được gần 2 năm.
Bao gồm 8 thành viên. Hoạt động HTX trong lĩnh vực thủy sản bao gồm sản xuất giống, nuôi trồng, khai thác và hoạt động kinh doanh sản phẩm thủy sản. Hiện tại HTX bao gồm 18 lồng nuôi cá thương phẩm, 2 lồng phục vụ cho sản xuất giống và 2 lò sấy. Đối tượng và các kết quả sản xuất của cơ sở Đối tượng sản xuất chủ yếu của HTX là sản xuất giống và nuôi thương phẩm các loài cá đặc sản.
6 Sản xuất giống các loại cá như cá Chiên, Lăng Chấm, Bỗng, Anh vũ và nuôi thương phẩm cá Chiên, Lăng Chấm, Bỗng, Rôphi, Chép. HTX đang nuôi thử nghiệm Trai ngọc nước ngọt với số lượng trên 10. HTX mới được thành lập đến nay chưa được 2 năm nên kết quả sản xuất của cơ sở trong 3 năm chưa thể đánh giá được. Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 2.
Cơ sở khoa học của đối tượng thực hiện chuyên đề 2.1 Phân loại Cá Trắm Đen Tên khoa học: Mylopharyngodon piceus (Richardson, 1846) (Nguyễn Văn Tiến, 2008) [12] Cá Trắm Đen sống chủ yếu ở vùng hạ lưu và thường đẻ ở vùng trung lưu các sông lớn như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Lam; cá có nhiều ở vùng đồng bằng Bắc bộ và Bắc Trung bộ. Giới hạn thấp nhất của loài cá này là sông Lam -Nghệ an (Nguyễn Thái Tự, 1983).[16] Trên thế giới, cá trắm đen phân bố từ Hắc Long Giang, Trung Quốc đến miền bắc Việt Nam, cá không phân bố rộng khắp thế giới. Cá trắm đen có giá trị kinh tế cao, được xem là một trong bốn loài cá nuôi quan trọng ở Trung Quốc và được người Trung Quốc nuôi hàng ngàn năm nay, cá được nuôi để làm thực phẩm và dược phẩm.