Chương 1: Tổng quan về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC); khái niệm liên quan tới ĐMC, nguyên tắc thực hiện và vị trí của ĐMC trong tiến trình phát triển, mục đích, ý nghĩa và quy trình thực hiện ĐMC; tổng quan về giao thông đường bộ; tổng quan về biến đổi khí hậu với giao thông đường bộ Việt Nam. Chương 2: Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề xuất quy trình lồng ghép các yếu tố BĐKH trong quy hoạch phát triển giao thông đường bộ việt nam bằng công cụ ĐMC; tình hình nghiên cứu về quy trình lồng ghép yếu tố BĐKH trong quy hoạch phát triển GTVT bằng công cụ ĐMC trên thế giới và ở Việt Nam, phương pháp tiếp cận, vai trò của ĐMC trong lồng ghép giảm thiểu và thích ứng với BĐKH trong quy hoạch phát triển giao thông đường bộ Việt Nam, những điều cần quan tâm trong quy hoạch phát triển giao thông đường bộ Việt Nam về thích ứng với BĐKH, nguyên tắc giải quyết vấn đề BĐKH trong ĐMC cho quy hoạch phát triển giao thông đường bộ Việt Nam; nguyên tắc chung lồng ghép BĐKH trong ĐMC; Chương 3: Quy trình lồng ghép các yếu tố biến đổi vào ĐMC của quy hoạch phát triển giao thông đường bộ Việt Nam: Các bước thực hiện lồng ghép BĐKH trong ĐMC của quy hoạch phát triển giao thông đường bộ Việt Nam bao gồm 8 bước; đánh giá tính khả thi của đề xuất. Tổng quan về đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) 1. Khái niệm về Đánh giá môi trường chiến lược Đánh giá môi trường chiến lược (ĐMC) là một công cụ được sử dụng để quản lý và bảo vệ môi trường.
ĐMC còn khá mới mẻ với thế giới và Việt Nam. Khái niệm, định nghĩa về ĐMC còn có những khác nhau giữa các nước, các tổ chức quốc tế tùy theo các cách tiếp cận được lựa chọn. Tại Việt Nam, khái niệm ĐMC đã được đưa vào Luật Bảo vệ môi trường 2005. Tại khoản 19, điều 3 nêu rõ: “ĐMC là việc phân tích, dự báo các tác động đến môi trường của các dự án chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển trước khi phê duyệt nhằm bảo đảm phát triển bền vững” [12].
Về cơ bản, đa số thống nhất rằng, ĐMC là một công cụ để lồng ghép các vấn đề về môi trường vào quá trình ra một quyết định mang tính chiến lược, vĩ mô về phát triển kinh tế xã hội như: chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chương trình (CQK). Như vậy, ĐMC là một chuỗi các giải pháp có tính phân tích và có sự tham gia của nhiều thành phần nhằm mục đích lồng ghép những vấn đề môi trường vào chính sách, kế hoạch, chương trình và đánh giá mối quan hệ tương quan với các vấn đề kinh tế và xã hội. Hiện nay trên thế giới, có 2 phương thức tiếp cận khác nhau về ĐMC, trên cơ sở đó, các khái niệm, định nghĩa về ĐMC cũng được hình thành theo các phương thức tiếp cận này:[7] + Phương thức tiếp cận thứ nhất cho rằng, ĐMC là một quá trình đánh giá, dự báo một cách có hệ thống các hậu quả về môi trường có thể xảy ra của một quyết định có tính chiến lược nhằm đảm bảo cho các hậu quả về môi trường đó được nhận dạng một cách đầy đủ, được giải quyết một cách thỏa đáng và sớm nhất của quá trình ra quyết định mang tính chiến lược đó cùng với sự cân nhắc đến các khía cạnh về kinh tế và xã hội làm cho quyết định đó có tính bền vững trong thực tế. + Phương thức tiếp cận thứ hai cho rằng, ĐMC là quá trình hòa nhập các khái niệm của tính bền vững vào việc ra các quyết định có tính chiến lược.
Nguyên tắc thực hiện và vị trí của ĐMC trong tiến trình phát triển 1. Nguyên tắc thực hiện Việc thực hiện ĐMC trên thế giới và Việt Nam còn khá mới, vì vậy tùy thuộc vào phương thức tiếp cận phù hợp mà các quốc gia, tổ chức quốc tế đề xuất các nguyên tắc thực hiện cụ thể. Về cơ bản, ở nhiều quốc gia, ĐMC được tiến hành theo nguyên tắc sau khi quyết định chiến lược đã được phê duyệt với mục đích để xem xét lại và điều chỉnh quyết định đó. Tuy nhiên, có những quốc gia ĐMC được tiến hành sau khi việc soạn thảo một quyết định chiến lược đã được kết thúc với mục đích để phản biện, bổ khuyết cho dự thảo quyết định đó.
Hoặc ĐMC được tiến hành song song với quá trình soạn thảo một quyết định chiến lược với mục đích để gắn kết từ đầu các vấn đề môi trường vào quá trình soạn thảo quyết định này.[7] Nhìn chung, phần lớn việc thực hiện ĐMC dựa trên thực tế triển khai, tổng kết và đúc rút kinh nghiệm trong việc thực hiện ĐMC cho từng đối tượng cụ thể. Trên cơ sở đó đề xuất ra nguyên tắc thực hiện ĐMC phù hợp. Đa số các quốc gia và tổ chức quốc tế nhận định rằng, thực hiện ĐMC song song với việc soạn thảo CQK sẽ mang lại hiệu quả cao nhất. Tại Việt Nam, quy định việc tiến hành ĐMC được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường (2005) là theo nguyên tắc đi song song.
Nghĩa là, ĐMC được tiến hành một cách song song với quá trình xây dựng một chiến lược, một quy hoạch, một kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển ngành, lĩnh vực. Vị trí của ĐMC trong tiến trình phát triển Các quốc gia trên thế giới có quá trình phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển ngành, lĩnh vực nói riêng thường diễn ra theo các giai đoạn khác nhau. Trên cơ sở đó, áp dụng các công cụ quản lý và bảo vệ môi trường phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Các giai đoạn thường được áp dụng như sau: + Giai đoạn 1: Xây dựng và ra các quyết định mang tính chiến lược (CQK); + Giai đoạn 2: Xây dựng và phê duyệt các dự án đầu tư; + Giai đoạn 3: Vận hành các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đang hoạt động trong thực tế.
5 z Về cơ bản, ĐMC được áp dụng ở giai đoạn 1 của tiến trình phát triển, làm cơ sở cho việc áp dụng các công cụ quản lý môi trường đối với các dự án. Giai đoạn 2 được áp dụng công cụ đánh giá tác động môi trường (ĐTM), còn giai đoạn 3 áp dụng công cụ kiểm toán môi trường (KTMT), (hình 1. Vị trí của ĐMC trong tiến trình phát triển [7] ĐMC ĐTM KTMT Chiến lược, chính sách, Cơ sở đang quy hoạch, kế hoạch, Dự án đầu tư hoạt động chương trình 1. Mục đích, ý nghĩa, vai trò và lợi ích của ĐMC Mục đích của ĐMC: Gắn kết một cách khoa học nhất các khía cạnh về môi trường vào quá trình ra quyết định đối với CQK.
Đồng thời, ĐMC dự báo và cung cấp một cách đầy đủ, toàn diện nhất các thông tin về xu hướng biến đổi môi trường, các tác động môi trường có thể xảy ra khi triển khai thực hiện CQK. Ý nghĩa của ĐMC: Đảm bảo về các khía cạnh về môi trường có thể hỗ trợ một cách có hiệu quả nhất cho từng khâu, từng bước và cho toàn bộ quá trình ra quyết định đối với CQK. Góp phần vào việc đảm bảo tính khả thi và bền vững về môi trường trong thực tế triển khai CQK. Vai trò của ĐMC: ĐMC đóng 2 vai trò chính trong quá trình thực hiện CQK.
Thứ nhất là tạo ra các luận cứ về môi trường để biện hộ cho một quyết định chiến lược về phát triển. Thứ hai là lồng ghép, gắn kết các vấn đề về môi trường, kinh tế và xã hội vào quá trình ra quyết định đối với CQK. ĐMC giúp phân tích, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến các CQK phát triển và tác động của các CQK phát triển đến biến đổi khí hậu; thông qua đó đề xuất các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ cần được tích hợp trong quy hoạch phát triển. Việc thúc đẩy áp dụng ĐMC để tích hợp vấn đề biến đổi khí hậu trong quá trình xây dựng các chiến lược, quy hoạch phát triển ở Việt Nam là hết sức quan trọng nhằm góp phần đạt được mục tiêu Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh để phát triển bền vững đất nước.
6 z Lợi ích của ĐMC: ĐMC có thể trợ giúp để thực hiện được ý tưởng của sự phát triển bền vững thông qua việc gắn kết các mục tiêu về môi trường với các mục tiêu về kinh tế - xã hội trong quá trình ra quyết định đối với CQK. Dựa vào kết quả của ĐMC, có thể chỉ ra các định hướng chính xác hơn, cụ thể hơn cho công tác ĐTM trong giai đoạn xây dựng các dự án đầu tư nhằm hiệu quả và chất lượng cao hơn. Đồng thời, ĐMC huy động sự tham gia của cộng đồng, của các cơ quan chính phủ, các tổ chức phi chính phủ liên quan,… giúp cho việc nhận được ủng hộ trong việc ra quyết định đối với CQK. Quy trình thực hiện ĐMC Đối với ĐMC, quy trình thực hiện không có điểm bắt đầu và điểm kết thúc rõ ràng, cũng như không bắt buộc phải thực hiện theo trình tự cụ thể.
Trong quá trình thực hiện ĐMC, nếu thấy xuất hiện những vấn đề bất ổn trong một bước thực hiện nào đó, thì phải quay lại các bước thực hiện trước để xem xét và đánh giá lại trước khi triển khai các bước tiếp theo. Về cơ bản, ĐMC thường có các bước thực hiện chung như sau [7]: (1). Sàng lọc về ĐMC: Tức là phải xác định xem một đề xuất về quyết định thực hiện CQK có đòi hỏi phải thực hiện ĐMC hay không? Đối với Việt Nam, bước sàng lọc này đã được đã được quy định ngay trong Luật BVMT (2005) và hướng dẫn cụ thể tại Nghị định 29/2011/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm 2011 của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường. Xác định phạm vi của ĐMC: Tức là phải xác định được phạm vi về không gian và thời gian cần đánh giá, dự báo về môi trường đối với một đề xuất về CQK.
Xác định những khía cạnh môi trường cốt lõi của ĐMC: Tức là phải xác định được những khía cạnh môi trường trọng yếu, cơ bản có liên quan đến CQK đã đề xuất. Đánh giá sự phù hợp: Tức là phải xem xét, đối chiếu và đánh giá tính phù hợp của các quan điểm, mục tiêu phát triển đề xuất trong CQK với các quan điểm, mục tiêu về môi trường. Trên cơ sở đó, đề xuất điều chỉnh cần thiết cho phù hợp.