chương 1, tác giả đã trình bày được tính cấp thiết của đề tài cũng như mục tiêu của bài nghiên cứu. Từ đó, tác giả đã xác định được câu hỏi, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và các phương pháp được sử dụng để thực hiện quá trình nghiên cứu đề tài “Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Crowe Việt Nam”. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 2. Các nghiên cứu trước Bởi vì tính cấp thiết của đề tài và mức độ quan trọng của khoản mục tài sản cố định trên báo cáo tài chính nên đã có nhiều bài nghiên cứu cùng lĩnh vực được tiến hành trước đó.
Trong quá trình tìm hiểu, tác giả đã tổng hợp được một số nghiên cứu như sau: Theo bài nghiên cứu "Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định nghiên cứu trường hợp tại công ty kiểm toán ERNST & YOUNG" được thực hiện bởi Bùi Thanh Kim Ngân (2018), tác giả đã so sánh quy trình kiểm toán của EY giữa hai công ty khách hàng khác biệt về quy mô. Không chỉ dừng lại ở việc phân tích so sánh, tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu và khảo sát, phỏng vấn các kiểm toán viên, để có cơ sở đưa ra những đánh giá khách quan hơn về hiệu suất của quy trình kiểm toán tài sản cố định. Từ đó, tác giả đã chỉ ra ưu, nhược điểm và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định tại công ty. Nguyễn Thị Thanh Nga (2019) với nghiên cứu “Kiểm toán khoản mục Tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán KPMG Việt Nam thực hiện”, được tiến hành bởi phương pháp nghiên cứu định tính đã trình bày được quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định tại một trong những công ty kiểm toán hàng đầu là Công ty Kiểm toán KPMG Việt Nam.
Từ những quan sát, phân tích thực tế dựa trên nền tảng lý thuyết, tác giả đã so sánh sự khác nhau giữa lý thuyết và thực tế, cũng như đánh giá về những ưu điểm, nhược điểm và đưa ra những kiến nghị cụ thể nhằm hoàn thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định. Trong bài nghiên cứu “Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định và chi phí khấu hao tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính - Trường hợp Chi nhánh Công ty TNHH Deloitte Việt Nam của Tô Thị Hoàng Lộc (2022), tác giả cũng đã sử dụng xuyên suốt phương pháp định tính cho bài luận, cụ thể là tiếp cận theo phương pháp nghiên cứu điển hình. Qua đó, tác giả khái quát được quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định của Deloitte Việt Nam. Từ đó, kết hợp với các phương pháp quan sát, phân tích và thực hiện phỏng vấn đối với nhóm kiểm toán viên, tác giả chỉ ra những ưu điểm cần được phát huy cũng như những nhược điểm cần được cải thiện và biện pháp 6 tương ứng nhằm nâng cao hiệu quả, cải thiện quy trình kiểm toán tài sản cố định.
Ngoài ra, tác giả còn so sánh và đưa ra được những điểm khác biệt giữa quy định về kiểm toán khoản mục tài sản cố định của công ty với quy trình trong thực tế. Nguyễn Thị Hồng Nhung (2023) trong nghiên cứu “Kiểm toán khoản mục tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty TNHH Hãng kiểm toán AASC thực hiện” đã bắt đầu mô tả quy trình kiểm toán chung tại Công ty TNHH Hãng kiểm toán AASC, sau đó tiếp tục đi sâu vào làm rõ quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định của công ty theo ba giai đoạn cụ thể. Thông qua quá trình quan sát, phân tích cũng như phỏng vấn kiểm toán viên, tác giả cũng đã đưa ra nhận xét về sự khác biệt giữa lý thuyết và thực tế cũng như những ưu, nhược điểm của quy trình kiểm toán và các đề xuất liên quan nhằm cải thiện quy trình này tại công ty. Nhìn chung, các nghiên cứu trước đều mô tả được quy trình kiểm toán tài sản cố định tại các doanh nghiệp và nhìn nhận được những ưu, nhược điểm cũng như đề xuất các giải pháp hữu ích để hoàn thiện quy trình kiểm toán này.
Bên cạnh đó, có thể thấy được những góc nhìn đa dạng từ các bài nghiên cứu khi so sánh giữa lý thuyết và thực tế quy trình tại các công ty kiểm toán khác nhau. Tuy vậy, các nghiên cứu vẫn chưa thực sự đi sâu vào tìm hiểu chi tiết các thủ tục kiểm toán được thực hiện như thế nào trong quy trình dẫn đến có thể chưa tìm ra được một số nhược điểm đáng lưu ý khác vẫn còn tồn đọng. Ngoài ra, việc phỏng vấn và khảo sát các kiểm toán viên của một số nghiên cứu còn bị hạn chế trong một nhóm nhất định nên kết luận sẽ thiếu tính khách quan. Kế thừa ưu điểm từ những nghiên cứu trước cùng với việc tham gia quy trình kiểm toán thực tế tại Công ty TNHH Crowe Việt Nam, tác giả đã tiến hành nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định dựa trên các thông tin và số liệu thực tế được thu thập.
Bài luận sẽ khai thác những khía cạnh thực tế thông qua minh họa quy trình kiểm toán tại một khách hàng, thực hiện khảo sát với các hồ sơ kiểm toán và kiểm toán viên đang làm việc tại công ty. Từ đó, đưa ra đánh giá về quy trình hiện có và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán của công ty. Tổng quan về khoản mục TSCĐ 2. Định nghĩa và phân loại TSCĐ TSCĐ được định nghĩa và phân loại cụ thể theo Điều 2, Thông tư 45/2013/TT- BTC ban hành ngày 25/04/2013 như sau: “Tài sản cố định hữu hình được mô tả là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải.
Tài sản cố định vô hình là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thỏa mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả. Tài sản cố định thuê tài chính là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng.” Những tài sản đi thuê khác không thỏa các điều kiện trên sẽ được coi là một khoản thuê hoạt động và phản ánh vào chi phí của doanh nghiệp.
TSCĐ thường chiếm tỷ trọng lớn trên BCĐKT của một doanh nghiệp. Giá trị của khoản mục này sẽ được thể hiện ở phần tài sản trên BCTC. Đặc điểm của TSCĐ là có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu và trong quá trình đưa vào hoạt động trong thực tế sẽ không tránh khỏi việc tài sản bị hao mòn theo thời gian cũng như phát sinh các khoản giảm giá trị cần được trích dần trong thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Do đó, giá trị của TSCĐ trên BCTC phải là giá trị thuần (giá trị còn lại) được thể hiện bởi nguyên giá ban đầu của tài sản và giá trị khấu hao theo phương pháp khấu hao mà doanh nghiệp đang áp dụng.
Cách trình bày giá trị khoản mục TSCĐ trên BCTC được mô tả ở phụ lục 01. Quy trình kế toán TSCĐ Là một phần hành chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số tài sản của một doanh nghiệp, việc hạch toán và theo dõi TSCĐ đòi hỏi sự chính xác và hợp lý khi ghi nhận giá trị cũng như theo dõi trích khấu hao cho tài sản. Do đó, quy trình kế toán TSCĐ cần được thiết kế để đảm bảo cân bằng được việc tuân theo các chuẩn mực, quy định hiện hành mà vẫn dễ dàng, thuận tiện trong việc quản lý TSCĐ một cách phù hợp nhất đối với doanh nghiệp. Chủ yếu trong quy trình kế toán này là các nghiệp vụ ghi tăng TSCĐ do mua vào, nhận góp vốn, biếu tặng, kết chuyển từ xây dựng cơ bản.
và các nghiệp vụ ghi giảm TSCĐ do thanh lý, nhượng bán tài sản. Bên cạnh đó, quy trình kế toán còn theo dõi, ghi nhận chi phí khấu hao của các tài sản hiện có theo phương pháp khấu hao được áp dụng tại doanh nghiệp. Chi tiết quy trình kế toán khoản mục TSCĐ được mô tả tại phụ lục 02. Chứng từ, sổ sách kế toán áp dụng Theo như Thông tư 200/2014/TT-BTC có đề cập đến các chứng từ kế toán được sử dụng trong quy trình quản lý TSCĐ cụ thể như sau: “- Biên bản giao nhận TSCĐ - Biên bản thanh lý TSCĐ - Biên bản bàn giao TSCĐ sửa chữa lớn hoàn thành - Biên bản đánh giá lại TSCĐ - Biên bản kiểm kê TSCĐ - Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ” Đồng thời, kế toán viên tại doanh nghiệp cũng có thể sử dụng các loại sổ sách kế toán theo mẫu được cung cấp trong Thông tư 200/2014/TT-BTC nhằm theo dõi đây đủ, chính xác các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh, ví dụ như: Số cái các tài khoản liên quan; Sổ TSCĐ; Sổ theo dõi TSCĐ và công cụ, dụng cụ tại nơi sử dụng; Thẻ TSCĐ;.
Tài khoản kế toán sử dụng Thông tư 200/2014/TT-BTC có quy định cụ thể về các tài khoản được sử dụng để phản ánh các nghiệp vụ liên quan đến TSCĐ như sau: “Tài khoản 211 - Tài sản cố định hữu hình: Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm toàn bộ tài sản cố định hữu hình của doanh nghiệp theo nguyên giá. Tài khoản 212 - Tài sản cố định thuê tài chính: Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm của toàn bộ TSCĐ thuê tài chính của doanh nghiệp.