CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước 1.1 Tổng quan các nghiên cứu nước ngoài Nghiên cứu của Yao và Cộng sự (2015) được đăng trong tạp trí kinh tế và kế toán đương đại Úc, Mục đích của nghiên cứu này là điều tra sự liên quan giữa đánh giá lại tài sản của các tài sản cố định và phí kiểm toán trong bối cảnh Úc. Sử dụng mẫu 300công ty niêm yết từ giai đoạn 2003-2007 rằng có một mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa giá trị hợp lý (ví dụ: các công ty đo lường tài sản cố định của họ theo giá trị hợp lý) và phí kiểm toán. Ngoài ra,các công ty s ử dụng một người thẩm định độc lập để ước tính các giá trị tài sản phải chịu phí kiểm toán thấp hơn đáng kể so với các công ty sử dụng định giá của quản lý nội bộ. Hơn nữa, quyền quyết định có sẵn trong các tiêu chuẩn kế toán cho phép các nhà quản lý đánh giá lại tài sản cố đinh cao hơn mức cân đối bình thường.
Họ thấy rằng các công ty mà đánh giá lại tài sản cố định trở lên phát sinh cao hơn phí kiểm toán. Bên cạnh đó các công ty thực hiện đánh giá lại trên cơ sở hàng năm đã trả phí kiểm toán cao hơn so với các công tyđã thực hiện đánh giá lại sau mỗi vài năm (ví dụ: cứ sau 3 năm). Bài nghiên cứu cũng thấy rằng các nhà quản trị doanh nghiệp có chức năng kiểm duyệt đối với phí kiểm toán trong quá trình đánh giá lại tài sản. Cụ thể, tính độc lập của hội đồng kiểm toán có thể làm giảm sự thiên vị báo cáo tài chính, tăng chất lượng và uy tín báo cáo tài chính.
Ngoài ra, chuyên gia trong hội đồng kiểm toán có thể là một cách bổ sung các kỹ năng định giá hạn chế của kiểm toán viên.Tuy nhiên, khi CEO cũng là chủ tịch, chỉ ra các vấn đề đối với hội đồng quản trị độc lập rằng phí kiểm toán tăng thêm so với những công ty có thành viên hội đồng quản trị độc lập cấp cao và tách biệt khỏi vai trò CEO. Kết quả của nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng đối với người đặt ra tiêu chuẩn trên đối với dịch vụ kế toán và kiểm toán giá trị hợp lý. Ngoài ra, độ tin cậy của ước tính giá trị hợp lý một phần phụ thuộc vào chất lượng quản trị doanh nghiệp của công ty nữa. SVTH: Bùi Thanh Kim Ngân Page 11 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Hải Vân Nghiên cứu của Josiah, Samson và cộng sự (2007) nghiên cứu về vai trò của kiểm toán viên trong việc phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính.
Kết quả nghiên cứu đã đưa ra kêt luận đó là để thực hiện kiểm toán, các biện pháp kiểm soát nội bộ nên thực hiện đầy đủ và hoàn hảo. Các hệ thống kế toán phải hợp lý vàcơ cấu tổ chức không được chồng chéo.Theo đó là một bộ quy tắc và phương phápdữ liệu kinh tế tài chính được thu thập, xử lý và tóm tắt thành các báo cáo có thể được sử dụng trong việc lập quyết định. Cả hai định nghĩa đều xác nhận rằng đó là công cụ cho việc ra quyết định. Quyết định có thể được đưa ra trên tiến độ công việc, liên tục hoặc hủy bỏ chính sách hoặc phương pháp sửa đổi không cần thiết.
Nghiên cứu của Chen và công sự (2018)“ Phát hiện gian lận trong kiểm toán báo cáo tài chính trong nhóm doanh nghiệp” đưa ra phương pháp nhằm thỏa mãn 3 mục tiêu nghiên cứu sau (i) thiết kế quy trình phát hiện gian lận trong báo cáo tài chính của nhóm doanh nghiệp , (ii) phát triển các kỹ thuật phát hiện gian lận và (iii) biểu diễn và đánh giá phương pháp tiếp cận.Bài viết kết luận đã tìm được ra 3 phương pháp cùng với các mô hình đáp ứng những tiêu chí trên: (1) mô hình phát hiện gian lận cho báo cáo tài chính của, ví dụ: tin tức tài chính, khối lượng giao dịch chứng khoán, dữ liệu dự đoán của các công ty bảo mật, xếp hạng tín dụng nợ, cơ cấu nợ và quản trị doanh nghiệp. Mô hình có thể áp dụng để phát hiện việc thông đồng gian lận giữa nhân viên và nhà cung cấp,người bán hàng (2) Hệ thống phát hiện gian lận dựa trên văn bản Trung Quốc. Ví dụ, nó có thể được áp dụng cho các báo cáo hàng năm và email thương mại.3) Cơ chế phát hiện gian lận cho báo cáo tài chính của các nhóm kinh doanh: Dựa trên Python 2. Các nhóm kinh doanh tại Đài Loan được sử dụng làm ví dụ để chứng minh tính khả thi và hiệu lực của phương pháp đề xuất trong nghiên cứu này.
Cơ chế này tăng cường tính chính xác của phát hiện gian lận, hoàn thành mục tiêu của nghiên cứu này.Kết quả của nghiên cứu này tạo điều kiện cho việc thực hiện phát hiện gian lận cho báo cáo tài chính của các nhóm kinh doanh và tăng cường độ chính xác phát hiện gian lận. Những phát hiện này có thể được sử dụng để giảm nguy cơ về giảm lợi nhuận công ty. SVTH: Bùi Thanh Kim Ngân Page 12 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Hải Vân 1.2 Tổng quan các nghiên cứu trong nước Nghiên cứucủa Nguyễn Mạnh Cường (2016) “Cải tiến quy trình kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán tài chính được thực hiện bởi Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn AAC” chỉ ra cách thực hiện kiểm toán tài sản cố định của công ty AAC. Tìm hiểu những sai lầm cũng như điểm yếu của công ty để cải thiện quá trình kiểm toán tài sản cố định.
Mục tiêu kiểm toán TSCĐ khi tiến hành kiểm toán bất cứ khoản mục nào trên BCTC, công ty AAC đều xác định rõ mục toeie mà kiểm toán khoản mục dó hướng tới.Việc làm này hết sức quan trọng vì nó giúp cho cuộc kiểm toán có định hướng, đúng trọng tâm và đạt được kết quả cao hơn trong công việc.Đối với khảo mục TSCĐ và XDCB dở dang, mục tiêu kiểm toán cụ thể: - Tất cả TSCĐ vô hình và hữu hình ,XDCB dở dang là có thực và thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp (sự tồn tại,quyền sở hữu)- Tất cả các nghiệp vụ tăng giảm ;các giá trị lợi nhuận hay thất thu mà các hoạt động này mang lại đều được hạch toán đầy đủ (sự đầy đủ), tác giả nhận thấy rằng bằng chứng kiểm toán đặc biệt màcụ thể là tài liệu chuyên gia trong kiểm toán TSCĐ hầu như là không có, vì vậy cần có những cải thiện và cập nhật trong cái thiếu xót này để thể sánh vai cùng những ty kiểm toán khác. Bên cạnh đó các công ty kiểm toán quốc tế lớn đều đã tự thiết kế và phát triển phần mềm kiểm toán dùng trong mạng lưới hãng thành viên của mình nhằm tạo ra và quản lý các chương trình kiểm toán. Phần mềm này gồm các quy trình chuẩn, và chương trình báo cáo chuẩn, văn bản pháp lí liên quan dến kiểm toán chuẩn.Có thể nhắc tới đó là phần mềm TEAMMAF của Price-Water House- Coopers,AS2 (Audit Systems 2) của Deloitte Touche Tohmatsu.Hay phần mềm hỗ trợ các kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán như IDEA của Case Ware,ACL for Windows của ACL Ltd. Ông nói rằng tuy AAC đã có phần mềm riêng, tuy nhiên việc sử dụng phần mềm khi kiểm toán tại các đơn vị còn rất hạn chế.Vì vậy để có thể theo nâng cao hiệu suất kiểm toán và tiết kiệm thời gian thì công ty AAC nên s ử dụng phần mềm trong hoạt động kiểm toán và hỗ trợ cho quá trình lập báo cáo tài chính.
SVTH: Bùi Thanh Kim Ngân Page 13 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.S Trần Thị Hải Vân Nghiên cứu của Th.s Bùi Văn Trường ( 2010) “ Quy trình kiểm toán tài sản cố định và chi phí khấu hao tại công ty TNHH kiểm toán Á Châu”.Trong bài Tác giả đã đưa ra quy trình kiểm toán của công ty kiểm ty kiểm toán độc lập Á Châu, công ty tuy mới ra đời vào năm 2006 cùng với sự phát triển và hội nhập với các nước trên thế giới, do đó công ty sẽ có những sai sót cần khắc phục nhằm gia tăng chất lượng cung cấp dịch vụ kiểm toán cũng như quản lý kinh tế trong việc quản lý của nhà nước. Tác giả sử dụng phương pháp phân tích qua các mẫu kiểm toán theo quy trình qui định của công ty Á Châu, kết quả tác giả đưa ra nhận xét rằng :quy trình kiểm toán của công ty Á Châu đang áp dụng mang tính chất chung chung tổng quát ,chưa cụ thể, chưa xây dựng được các quy trình kiểm toán riêng cho từng ngành cũng như từng loại hình công ty.Vấn đề này gây nhiều lúng túng, khó khăn cho kiểm toán viên trong việc triển khai kế hoạch kiểm toán,đặc biệt là đối với những khách hàng mới có đặc thù kinh doạnh không quen thuộc. Điều đó có thể làm cho chất lượng trong cuộc kiểm toán không được đảm bảo và có thể dẫn tới rủi ro cao. Bên cạnh đó tác giả còn nhận thấy hệ thống kiểm soát nội bộ đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với tính hợp lý và tính trung thực của số liệu báo cáo tài chính.
Khi hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng được đánh giá là hiệu quả trong thực tế thì kiểm toán viên có thể thu hẹp phạm vi các thử nghiệm cơ bản ở các khoản mục có liên quan. Do đó, giúp các kiểm toán viên tiết kiệm được thời gian cũng như chi phí của cuộc kiểm toán. Nhưng ở công ty, việc đưa ra trình tự các bước cụ thể để xem xét hệ thống kiểm soát nội bộ phù hợp với từng ngành , từng loại hình doanh nghiệp với sự giúp đỡ của công cụ tìm hiểu như bảng câu hỏi, lưu đồ, bảng tường thuật không được thực hiện. Mặc dù trong quy trình kiểm toán của công ty có mục tìm hiểu và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ của khách hàng nhưng trong thực tế công việc này ít được các KTV quan tâm.
Trong suốt quá trình kiểm toán, KTV ít có những buổi tiếp xúc trực tiếp với nhân viên quản lý ở các bộ phận khác nhau để phỏng vấn tìm hiểu nguyên nhân gây ra sai sót ở các bộ phận đó, mà chỉ làm việc với bộ phận kế toán trong đơn vị nên trong nhiều trường hợp các KTV có thể vẫn chưa tìm được giải pháp tối ưu cho ý kiến tư vấn của mình.Đặc biệt SVTH: Bùi Thanh Kim Ngân Page 14 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: Th.