Chương 1 NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1. Khái quát về tài sản cố định trong doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản cố định Đối với bất cứ một doanh nghiệp nào, tài sản đều đóng vai trò lớn trong việc thực hiện mục tiêu mà trong đó TSCĐ có ý nghĩa quan trọng, góp phần đáng kể đem lại những lợi ích cho doanh nghiệp.TSCĐ là một khoản mục có giá trị lớn, thường chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán. giá trị khoản mục này thường chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản đối với các doanh nghiệp sản xuất thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng, dầu khí.
Khái niệm TSCĐ: TSCĐ trong các doanh nghiệp là những tư liệu lao động chủ yếu và các tài sản khác có giá trị lớn, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh (SXKD) và giá trị của nó được dịch chuyển dần dần, từng phần vào giá trị sản phẩm, dịch vụ được sản xuất ra trong các chu kỳ sản xuất. Những tư liệu lao động chủ yếu trong doanh nghiệp bao gồm nhà xưởng, máy móc, thiết bị và dụng cụ quản lý. Tuy nhiên, không phải mọi tư liệu đều là TSCĐ mà chỉ có những tài sản thỏa mãn điều kiện theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ tài chính kế toán của nhà nước quy định theo từng thời kỳ. Phân loại TSCĐ: bao gồm TSCĐ hữu hình, TSCĐ vô hình và TSCĐ cho thuê tài chính.
Theo Thông tư 45/2013/TT-BTC ban hành ngày 25/04/2013 của Bộ Tài Chính. Khái niệm TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải. Khái niệm TSCĐ vô hình: những tài sản không có hình thái vật chất, thể SV: Tô Lan Phương Lớp CQ54/22.05 Luận văn tốt nghiệp 5 Học viện Tài chính hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả. Khái niệm TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ mà doanh nghiệp thuê của Công ty cho thuê tài chính.
Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng thuê tài chính ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký hợp đồng. Mọi TSCĐ đi thuê nếu không thoả mãn các quy định nêu trên được coi là tài sản cố định thuê hoạt động. Tiêu chuẩn ghi nhận TSCĐ :Các tài sản được ghi nhận là tài sản cố định hữu hình phải thỏa mãn đồng thời ba điều kiện sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó - Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách đáng tin cậy và có giá trị từ 30.000 đồng (mười triệu đồng) trở lên.; - Thời gian sử dụng ước tính trên một năm.
Đặc điểm, vai trò trong doanh nghiệp, hệ thống chứng từ- sổ kế toán và các thông tin về TSCĐ trong BCTC 1. Đặc điểm của TSCĐ - Tham gia trực tiếp, gián tiếp vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. - Tài sản cố định hữu hình khi tham gia vào sản xuất kinh doanh, mặc dù bị hao mòn về giá trị song vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng phải loại bỏ. - Khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị của chúng được chuyển dịch từng phần vào giá thành của sản phẩm làm ra dưới hình thức khấu hao.
SV: Tô Lan Phương Lớp CQ54/22.05 Luận văn tốt nghiệp 6 Học viện Tài chính 1. Vai trò của TSCĐ trong doanh nghiệp TSCĐ là tư liệu lao động chủ yếu, do đó nó có vai trò rất quan trọng tới hoạt động sản xuất, quyết định hoạt động sản xuất, khối lượng và chất lượng sản phẩm, từ đó ảnh hưởng tới sự hoạt động và phát triển của doanh nghiệp. Trên góc nhìn vi mô, máy móc thiết bị, quy trình công nghệ sản xuất phù hợp chính là yếu tố để xác định quy mô và năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Từ góc nhìn vĩ mô, đánh giá về thực lực của toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật vững mạnh hay không? Chính vì vậy, trong sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp nói riêng cũng như của toàn bộ nền kinh tế nói chung, TSCĐ là một bộ phận then chốt, có vai trò quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp.
TSCĐ thể hiện chính xác nhất năng lực, trình độ trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế quốc dân. Hệ thống chứng từ, sổ kế toán - Về chứng từ: Tổ chức chứng từ kế toán là thiết kế khối lượng công tác hạch toán ban đầu trên hệ thống các văn bản chứng từ hợp lý, hợp pháp theo một quy trình luôn chuyển chứng từ nhất định. Các chứng từ liên quan đến TSCĐ sau : + Hợp đồng mua Tài sản cố định. + Hoá đơn bán hàng, hoá đơn kiêm phiếu xuất kho của người bán.
+ Biên bản đánh giá lại Tài sản cố định. + Biên bản kiểm kê Tài sản cố định. + Biên bản nghiệm thu khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành. + Biên bản bàn giao Tài sản cố định.
+ Biên bản thanh lý Tài sản cố định. + Biên bản quyết toán, thanh lý hợp đồng mua tài sản. + Bảng tính và phân bổ khấu hao Tài sản cố định. - Về sổ sách: Để theo dõi kịp thời và đầy đủ các thông tin về Tài sản cố định, các doanh nghiệp thường sử dụng hệ thống chứng từ sổ sách như: + Thẻ Tài sản cố định.
SV: Tô Lan Phương Lớp CQ54/22.05 Luận văn tốt nghiệp 7 Học viện Tài chính + Sổ chi tiết Tài sản cố định theo từng bộ phận sử dụng và theo loại TSCĐ theo dõi. + Sổ cái các tài khoản 211, 212, 213, 214, 241. Các thông tin về TSCĐ trong BCTC Trong BCTC của doanh nghiệp có rất nhiều thông tin liên quan đến TSCĐ bao gồm: các thông tin về nguyên giá, giá trị hao mòn, các khoản chi phí có liên quan đến TSCĐ như: chi phí khấu hao trong chi phí sản xuất kinh doanh từ đó tác động đến các chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí và kết quả kinh doanh được tổng hợp và trình bày trong các BCTC hàng năm của đơn vị. - Nguyên giá: là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn sàng sử dụng.
- Khấu hao: là sự phân bổ có hệ thống giá trị phải khấu hao của TSCĐ trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó. - Giá trị phải khấu hao: là nguyên giá của TSCĐ ghi trên BCTC, trừ (-) giá trị thanh lý ước tính của tài sản đó. - Giá trị thanh lý: là giá trị ước tính thu được khi hết thời gian sử dụng hữu ích của tài sản đó sau khi trừ chi phí thanh lý ước tính. - Giá trị còn lại: là nguyên giá TSCĐ sau khi trừ số khấu hao lũy kế của tài sản đó.
Khái quát về kiểm toán tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính 1. Đặc điểm kiểm toán đối với TSCĐ Tuy nhiên việc kiểm toán TSCĐ thường không chiếm nhiều thời gian vì: - Số lượng TSCĐ thường không nhiều và từng đối tượng thường có giá trị lớn; - Số lượng nghiệp vụ tăng, giảm TSCĐ trong năm thường không nhiều; - Vấn đề khóa sổ cuối năm không phức tạp như tài sản ngắn hạn. Đối với chi phí khấu hao, khác với các chi phí thông thường khác, việc kiểm toán có hai đặc điểm riêng như sau: SV: Tô Lan Phương Lớp CQ54/22.05 Luận văn tốt nghiệp 8 Học viện Tài chính - Chi phí khấu hao là một khoản ước tính kế toán chứ không phải là chi phí thực tế phát sinh. Vì vậy, việc kiểm toán chi phí khấu hao mang tính chất kiểm tra một khoản ước tính kế toán hơn là một khoản chi phí phát sinh thực tế; - Do chi phí khấu hao là một sự phân bổ có hệ thống của nguyên giá sau khi trừ giá trị thanh lý ước tính nên sự hợp lý của nó còn phụ thuộc vào phương pháp khấu hao được sử dụng.
Do vậy, việc kiểm toán chi phí khấu hao còn mang tính chất của sự kiểm tra về việc áp dụng phương pháp kế toán. Mục đích và nhiệm vụ của kiểm toán TSCĐ Theo chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200: “Mục tiêu của kiểm toán BCTC là giúp cho KTV và Công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành ( hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không?”. TSCĐ là khoản mục có giá trị lớn, thường chiếm tỷ trọng đáng kể với tổng tài sản trên BCĐKT , tùy thuộc vào từng ngành nghề, từng loại hình, lĩnh vực kinh doanh của đơn vị, đặc biệt trong các DN sản xuất thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng, dầu khí… giá trị khoản mục này chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng tài sản. Vì thế, trong mọi trường hợp, khoản mục TSCĐ phản ánh tình trạng trang thiết bị cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp.
Điều này khiến cho khoản mục TSCĐ trở thành một khoản mục quan trọng khi tiến hành Kiểm toán BCTC. Mặt khác do chi phí hình thành TSCĐ rất lớn và khả năng quay vòng vốn chậm nên việc kiểm toán TSCĐ sẽ giúp đánh giá được tính kinh tế và tính hiệu quả của việc đầu tư cho TSCĐ từ đó đưa ra định hướng đầu tư và nguồn sử dụng để đầu tư vào TSCĐ một cách hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, kiểm toán BCTC còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót trong việc xác định chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ, chi phí sửa chữa, chi phí khấu hao tài sản.