CHƯƠNG I Trong chương này, người viết đã giới thiệu tổng quan về công ty CPA: Lịch sử hình thành và phát triển; ngành nghề hoạt động, sơ đồ tổ chức; đặc điểm hoạt động, chương trình kiểm toán được áp dụng tại công ty; khó khăn, thuận lợi và phương hướng phát triển của công ty. Mặc dù hoạt đọng nhiều lĩnh vực như tư vấn thuế, phần mềm tin học, thẩm định giá, … nhưng Kiểm toán BCTC là lĩnh vực chính của công ty. Về quy trình Kiểm toán, công ty áp dụng quy trình kiểm toán do VACPA ban hành. 14 do an CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUY TRÌNH KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC DTBH & CCDV 2.1 Khái niệm và chức năng của kiểm toán 2.1 Khái niệm Các chuyên gia giáo dục và đào tạo kiểm toán ở Cộng hoà Pháp định nghĩa rằng: “Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản hàng năm của một tổ chức do một người độc lập, đủ danh nghĩa gọi là kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng đắn tình hình tài chính thực tế, không che giấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định”.
Kiểm toán dùng các phương pháp đối chiếu, logic, diễn giải thông tin, điều tra, quan sát, kiểm kê, thử nghiệm để xác minh tính trung thực của tài liệu và tính pháp lý của các báo cáo tài chính của một công ty, tổ chức nào đó. Có nhiều cách phân loại kiểm toán, nhưng để dễ hiểu nhất thì chúng ta nên phân loại theo chủ thể kiểm toán. Cụ thể, có 3 loại kiểm toán như sau: Kiểm toán Nhà nước: Do cơ quan kiểm toán Nhà nước tiến hành theo luật định và không thu phí, thông thường đối tượng được kiểm toán là doanh nghiệp nhà nước. Kiểm toán độc lập: Được tiến hành bởi kiểm toán viên tại các công ty độc lập chuyên về dịch vụ này.
Nhiệm vụ chính của họ thường là kiểm toán những báo cáo tài chính, ngoài ra cũng có các dịch vụ khác về tài chính và kinh tế tùy theo yêu cầu của khách hàng. Đây là loại kiểm toán nhận được sự tin cậy từ bên thứ ba hay những nhà đầu tư. Kiểm toán nội bộ: Là những kiểm toán viên trong nội bộ một công ty, tổ chức nào đó. Họ thực hiện kiểm toán theo yêu cầu của các thành viên Hội đồng quản trị hoặc Ban giám đốc.
Thường thì những báo cáo kiểm toán này chỉ được sử dụng trong nội bộ công ty mà ít nhận được sự tin cậy từ bên ngoài, vì các kiểm toán viên này cũng là nhân viên trong nội bộ công ty và làm việc dưới ảnh hưởng của ban giám đốc.2 Chức năng Các cơ quan Nhà nước cần thông tin trung thực để hoạch định chính sách kinh tế phù hợp, các nhà đầu tư cần tài liệu tin cậy để sử dụng đồng tiền của mình đúng mục đích. 15 do an Người lao động, khách hàng, nhà cung cấp cần hiểu thực chất về kinh doanh và tài chính, chế độ tiền lương của công ty mình để làm việc. Những người quan tâm này lại không có kinh nghiệm về tài chính, kế toán. Và chỉ nhân viên kiểm toán mới có thể giúp được họ.
Kiểm toán gồm 3 chức năng chính: Xác minh tính trung thực và tính pháp lý của các báo cáo tài chính. Bày tỏ ý kiến về tính trung thực và mức độ hợp lý của các thông tin tài chính, kế toán. Tư vấn cho các nhà quản lý. Bằng việc chỉ ra sai sót, yếu kém, kiểm toán viên gợi mở, đề xuất các biện pháp khắc phục để các công ty, tổ chức làm ăn hiệu quả hơn.2 Nội dung và đặc điểm của khoản mục DTBH & CCDV 2.1 Khái niệm Trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam, VAS 14: “Doanh thu là tổng các giá trị lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.” Như vậy, doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị của các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được.
Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là doanh thu. Doanh thu phát sinh từ 2 hoạt động: Bán hàng: Bán các sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra, bán hàng hóa mua vào. Cung cấp dịch vụ: Thực hiện các công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một hoặc nhiều kỳ kế toán. Trong quá trình tiêu thụ, có những trường hợp ảnh hưởng làm thay đổi doanh thu của doanh nghiệp, bao gồm: Chiết khấu thương mại: Là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn.
Giảm giá hàng bán: Là khoản giảm trừ cho người mua do hàng hóa kém phẩm chất, sai quy cách hoặc lạc hậu thị hiếu. Giá trị hàng bán bị trả lại: Là giá trị khối lượng hàng bán đã xác định là tiêu thụ bị khách hàng trả lại và từ chối thanh toán.2 Nguyên tắc ghi nhận DTBH & CCDV Doanh thu bán hàng là một chỉ tiêu quan trọng trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, phản ánh quy mô kinh doanh, khả năng tạo ra tiền của doanh nghiệp và là cơ sở để kế toán xác định đúng KQHĐKD. Vì vậy việc xác định DTBH & CCDV phải tuân thủ các giả định và nguyên tắc kế toán cơ bản sau: Cơ sở dồn tích: Doanh thu phải được ghi nhận vào thời điểm phát sinh, không phân biệt đã thu hay chưa thu tiền, doanh thu bán hàng được xác định theo giá trị hợp lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu. Phù hợp: Khi ghi nhận DTBH & CCDV phải ghi nhận một khoản chi phí phù hợp, có liên quan đến hoạt động phát sinh ra DTBH & CCDV.
Thận trọng: DTBH & CCDV chỉ được ghi nhận khi có bằng chứng chắc chắn về khả năng thu được lợi ích kinh tế.3 Điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ Theo VAS 14: Doanh thu bán hàng được ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn được tất cả 5 điều kiện sau: Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hóa cho người mua. Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền kiểm soát hàng hóa. Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Doanh nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.
Xác định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.2 Đặc điểm của khoản mục DTBH & CCDV Doanh thu được trình bày trên Báo cáo KQHĐKD, bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ, các khoản giảm trừ và doanh thu thuần. DTBH và CCDV là giá trị hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp đã bán hàng hay cung cấp trong kỳ. Đối với doanh nghiệp là đối tượng chịu thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ, doanh thu này không bao gồm thuế thuế GTGT. Đối với các doanh nghiệp chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thuế GTGT đầu ra được tính vào doanh thu bán hàng.
17 do an Doanh thu thuần là doanh thu sau khi đã khấu trừ các khoản được giảm trừ, như chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, giá trị hàng bán bị trả lại, thuế TTĐB hoặc thuế xuất khẩu tính trên doanh thu thực hiện trong kỳ (nếu có). Đối với doanh nghiệp chịu thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp, thuế GTGT đầu ra được đưa vào các khoản giảm trừ để loại ra khỏi doanh thu thuần. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là một trong những khoản mục trọng yếu trên BCTC vì đó là cơ sở để người sử dụng đánh giá về tình hình kinh doanh và khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định đầu tư. Chính vì vậy, daonh thu là khoản mục có khả năng ẩn chứa nhiều sai phạm dẫn đến BCTC bị sai sót trọng yếu.
Những sai phạm đó có thể được hình thành từ những lý do: Trong nhiều trường hợp, việc xác định thời điểm thích hợp và số tiền để ghi nhận doanh thu đòi hỏi sự xét đoán. Doanh thu có quan hệ mật thiết với kết quả lãi (lỗ), nên những sai sót về doanh thu thường dẫn đến lãi (lỗ) bị trình bày không trung thực và không hợp lý. Tại một số doanh nghiệp, doanh thu còn là cơ sở để đánh giá kết quả hoặc thành tích, nên chúng có khả năng bị thổi phồng cao hơn thực tế. Tại Việt Nam, doanh thu có mối quan hệ chặt chẽ với Thuế GTGT đầu ra nên có khả năng bị khai thấp hơn thực tế để trốn tiền nộp thuế.3 Quy trình thực hiện kiểm toán khoản mục DTBH & CCDV 2.1 Mục tiêu thực hiện kiểm toán khoản mục DTBH & CCDV trong BCTC Trong hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, theo chuẩn mực kiểm toán số 200 - Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện kiểm toán theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam: “Mục tiêu tổng thể của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán khi thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính là: Đạt được sự đảm bảo hợp lý rằng liệu báo cáo tài chính, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến về việc liệu BCTC có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày báo cáo tài chính được áp dụng, trên các khía cạnh trọng yếu hay không.” Chính vì vậy, mục tiêu kiểm toán giúp cho các kiểm toán viên thấy được những tồn tại có còn xảy ra sai sót trên khía trọng yếu hoặc do gian lận… để đưa ra ý kiến kiểm 18 do an toán về việc báo cáo tài chính có đáng tin cậy, có được trình bày trung thực và hợp lý trên khía cạnh trọng yếu hay không.
Đối với khoản mục DTBH & CCDV, mục tiêu kiểm toán được thể hiện qua một số cơ sở dẫn liện sau đây: Hiện hữu và quyền: Các khoản DTBH & CCDV trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh phát sinh trong kỳ phải thực sự hiện hữu và thuộc về đơn vị.