Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Giới thiệu chung về Công ty máy kéo và máy nông nghiệp Công ty máy kéo và máy nông nghiệp thuộc Tổng công ty máy động lực và máy nông nghiệp – Bộ công nghiệp. Công ty là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân và thực hiện hạch toán kinh tế độc lập. Trụ sở của công ty đóng tại đường Chu Văn An- Hà Đông- Hà Nội.
Quá trình hình thành và phát triển Công ty máy kéo và máy nông nghiệp có tiền thân là nhà máy công cụ Hà Đông, thành lập từ ngày 22/10/1960. Nhà máy được thành lập với sự sát nhập của năm tập đoàn sản xuất miền Nam chuyên sản xuất nông cụ cải tiến, đồ mộc, sửa chữa ô tô. Lúc đó nhà máy có 131 công nhân viên chủ yếu là công nhân cơ giới, 36 thiết bị cũ mà Pháp để lại và gần 2000 m2 nhà xưởng. Nhiệm vụ của nhà máy trong giai đoạn này là nghiên cứu sản xuất máy kéo, sản xuất máy công tác đi theo máy kéo phục vụ cơ giới hóa nông nghiệp, sản xuất hàng phục vụ quốc phòng và đào tạo đội ngũ cán bộ cho ngành cơ khí.
Từ năm 1960- 1968 nhà máy chủ yếu sản xuất các mặt hàng cơ khí như : sản xuất máy kéo MTZ50, sản xuất máy kéo tháng tám 50CV, các loại máy bơm chống hạn 6K18. để phục vụ nông nghiệp. Năm 1967 nhà máy đổi tên thành Nhà máy cơ khí Nông nghiệp. Từ năm 1968 – 1988, nhà máy đầu tư mở rộng nhà xưởng với 4000 m2, đầu tư thêm thiết bị sản xuất, đội ngũ công nhân tăng lên (1200 người).
Đồng thời nhà máy cử một đoàn cán bộ sang Trung Quốc nghiên cứu máy kéo 12. Trong giai đoạn này nhà máy đã đạt được những thành tựu đáng kể: sản lượng sản xuất máy kéo và bình bơm tăng dần với chất lượng ngày càng cao, đời sống cán bộ công nhân viên ngày được cải thiện. Năm 1989, nền kinh tế nước ta chuyển dần từ nền kinh tế tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước, cơ chế thị trường đòi 3 hỏi nhà máy phải tự đổi mới và vận động theo nó. Kết quả là trong thời kỳ này nhà máy đã sản xuất được gần 30 loại sản phẩm phục vụ cho nông nghiệp.
Ngày 25/02/1993 thành lập lại Nhà máy cơ khí nông nghiệp theo nghị định 338, Quyết định số 287QD/TCNSĐT. Ngày 17/04/1994, theo quyết định số 175/ TCCBĐT của Bộ Công nghiệp, Nhà máy Cơ khí nông nghiệp đổi tên thành Công ty máy kéo và máy nông nghiệp. Qua 50 năm hoạt động, đến nay công ty không ngừng phát triển lớn mạnh về mọi mặt. Từ chỗ sản xuất công cụ cải tiến và sửa chữa đến sản xuất đồng bộ máy kéo và thiết kế chuyên dùng có độ phức tạp cao, từ chỗ chỉ có 36 thiết bị cũ lên tới 600 thiết bị đặt trong 8 phân xưởng sản xuất.
Hiện nay sản phẩm của công ty đã có mặt ở mọi miền đất nước và được bà con nông dân tín nhiệm sử dụng. Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh 1. Cơ cấu tổ chức sản xuất Công ty chuyên sản xuất máy phục vụ cho sản xuất nông nghiệp theo quy trình khép kín từ khâu rèn đúc thép, đúc gang và gia công cơ khí đến mạ nhiệt luyện, lắp ráp ra sản phẩm. Bộ máy sản xuất của công ty gồm 8 phân xưởng: Hình 1.
Sơ đồ tổ chức bộ máy sản xuất * Phân xưởng đúc: tạo phôi chi tiết bằng gang, thép. * Phân xưởng rèn dập: cắt phôi, nén, dập, gò, hàn các loại chi tiết. 4 * Phân xưởng cơ khí: gia công các loại hộp, trục, càng, bánh răng… * Phân xưởng nhiệt mạ: mạ và nhiệt luyện các chi tiết. * Phân xưởng lắp ráp: lắp ráp và hoàn thiện sản phẩm.
* Phân xưởng cơ khí 3: sản xuất bình bơm thuốc trừ sâu. * Phân xưởng dụng cụ: sản xuất trang bị công nghệ, khuôn mẫu, dụng cụ cắt phục vụ sản xuất. * Phân xưởng sửa chữa: chuyên sản xuất, sửa chữa thiết bị, đại tu máy móc thiết bị… 1. Đặc điểm công nghệ Công ty máy kéo và máy nông nghiệp chuyên sản xuất thiết bị, máy móc, phụ tùng máy phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Sản phẩm của công ty được đa dạng hóa theo yêu cầu của thị trường nên công ty có sản xuất nhiều chủng loại sản phẩm như: máy kéo 8CV, máy kéo 12CV, máy kéo 15-18CV, máy gặt đập liên hợp, máy cấy, máy gieo hạt, bình bơm thuốc trừ sâu… và các loại phụ tùng máy móc khác. Thép phôi và gang được xuất kho xuống các phân xưởng đúc, rèn dập. Tại đây các phân xưởng có nhiệm vụ thực hiện công nghệ chế tạo phôi, sau đó phôi được nhập vào kho phôi để xuất cho phân xưởng cơ khí. Phân xưởng cơ khí chuyển đến phân xưởng nhiệt mạ để mạ rồi nhập lại cho phân xưởng cơ khí hoặc có thể từ phân xưởng cơ khí, phân xưởng nhiệt mạ nhập xuống kho bán thành phẩm.
Từ kho bán thành phẩm có thể xuất các phụ tùng xuống kho thành phẩm để bán hoặc chuyển xuống phân xưởng lắp ráp sau đó nhập xuống kho thành phẩm để xuất bán. Mỗi phân xưởng đều có nhân viên KCS kiểm tra chất lượng sản phẩm. Sơ đồ quy trình sản xuất 1. Đặc điểm về lao động Hiện tại côn ty có 949 cán bộ công nhân viên trong đó 13% là nhân viên quản lý, 125 kỹ sư.
Với đội ngũ công nhân dày dặn kinh nghiệm là điều kiện thuận lợi cho công tác nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời khắc phục những sự cố do thiết bị cũ, lạc hậu gây ra. Đáp ứng nhanh các loại sản phẩm phù hợp với nhu cầu của khách hàng. Đặc điểm về máy móc thiết bị Máy móc thiết bị của công ty máy kéo và máy nông nghiệp chủ yếu là của Liên Xô trang bị. Phần lớn trang thiết bị đã quá cũ, lạc hậu.
Những năm gần đây công ty đã đầu tư thêm các loại máy công cụ được sản xuất từ Trung Quốc, Đài Loan, đặc biệt là công ty đã trang bị thêm các máy CNC cho dây chuyền sản xuất. Nhìn chung công ty có số lượng máy móc, thiết bị sản xuất là tương đối lớn và đầy đủ đáp ứng được nhiệm vụ và yêu cầu sản xuất của công ty. Tuy nhiên để sản phẩm của công ty có sức cạnh tranh cao trên thị trường, trong những năm tới công ty cần đầu tư thêm trang thiết bị hiện đại nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành đáp ứng nhu cầu phát triển của xã 6 hội. Dưới đây là hình ảnh một số máy móc thiết bị tại Công ty máy kéo và máy nông nghiệp: Hình 1.
Máy CNC để gia công các chi tiết máy Hình 1. Máy doa sửa Hình 1. Máy doa xylanh tay biên 1. Mục tiêu của khóa luận Mục tiêu của khóa luận là nghiên cứu thiết kế, xây dựng quy trình công nghệ chế tạo tay biên của động cơ D12 làm cơ sở để các nhà máy, doanh nghiệp chế tạo máy nông nghiệp, áp dụng đưa vào sản xuất.
Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: vận dụng kiến thức về ô tô máy kéo, kết cấu tính toán động cơ đốt trong, công nghệ chế tạo máy để nghiên 7 cứu thiết kế và xây dựng quy trình công nghệ chế tạo tay biên của động cơ D12. Nội dung của khóa luận 1. Thiết kế tay biên của động cơ D12 + Cấu tạo chung và điều kiện làm việc của tay biên. + Phân tích lực tác dụng lên cơ cấu biên tay quay.
+ Tính toán thiết kế tay biên của động cơ D12. Xây dựng quy trình công nghệ chế tạo tay biên của động cơ D12 + Phân tích chức năng làm việc của tay biên. + Phân tích tính công nghệ trong kết cấu của tay biên. + Xác định dạng sản xuất.
+ Chọn phương pháp chế tạo phôi. + Lập thứ tự các nguyên công, các bước (vẽ sơ đồ gá đặt, ký hiệu định vị, kẹp chặt, chọn máy, chọn dao, vẽ ký hiệu chiều chuyển động của dao, của chi tiết). + Tính lượng dư cho một bề mặt nào đó (mặt tròn trong, mặt tròn ngoài hoặc mặt phẳng) còn tất cả các mặt gia công khác của chi tiết thì tra theo Sổ tay công nghệ chế tạo máy. + Tính chế độ cắt cho một nguyên công nào đó (thường là nguyên công phải sử dụng đồ gá) còn tất cả các nguyên công khác thì tra theo Sổ tay công nghệ chế tạo máy.
+ Tính thời gian gia công cơ bản cho tất cả các nguyên công. + Thiết kế một đồ gá gia công hoặc một đồ gá kiểm tra. + Xây dựng các bản vẽ. 8 Chương 2 THIẾT KẾ TAY BIÊN CỦA ĐỘNG CƠ D12 2.
Cấu tạo chung và điều kiện làm việc của tay biên 2. Cấu tạo chung của tay biên Thanh truyền (tay biên) được chia làm 3 phần: đầu nhỏ, thân và đầu to. Đầu nhỏ thanh truyền lắp ghép với chốt piston, đầu to lắp ghép với chốt trục khuỷu. Cấu tạo của tay biên 1-Đầu nhỏ tay biên; 2- Thân tay biên; 3- Đầu to tay biên a) Đầu nhỏ thanh truyền Đầu nhỏ thanh truyền lắp với chốt piston, bên trong có bạc đồng, phía trên có lỗ dầu bôi trơn cho bạc.
Bạc đồng được ghép chặt vào đầu nhỏ thanh truyền. Nếu chốt piston lắp cố định trên đầu nhỏ thì đầu nhỏ có khe cắt xiên và cố định bằng bulông. Nếu chốt piston lắp với đầu nhỏ thanh truyền thì phải có bạc lót và cần giải quyết tốt vấn đề bôi trơn. Người ta thường khoan lỗ hứng dầu trên đầu nhỏ hoặc khoan dọc thân thanh truyền để dẫn dầu bôi trơn từ cổ trục lên.
Ở các động cơ cỡ nhỏ, động cơ 2 kỳ cao tốc người ta không dùng bạc lót mà dùng ổ bi đũa. Để điều chỉnh trọng lượng thanh truyền, trên đầu nhỏ có vấu lồi dự trữ kim loại. 9 b) Thân thanh truyền Thân thanh truyền được nối đầu nhỏ với đầu to, có tiết diện hình chữ I được ứng dụng rộng rãi trong các loại động cơ. Do tính hợp lý của việc sử dụng vật liệu nên trọng lượng thanh truyền nhỏ mà độ cứng vững lớn.
Trong thân thanh truyền có khoan lỗ dẫn dầu bôi trơn. Đường kính lỗ dẫn dầu phải bảo đảm cung cấp đẩy đủ lượng dầu bôi trơn và nhanh chóng đưa dầu lên bôi trơn khi khởi động. Vì vậy lỗ dẫn dầu không nên quá lớn hoặc quá bé. Để tăng độ cứng vững và dễ khoan lỗ dẫn dầu, người ta lam gân dọc suốt chiều dài thân thanh truyền.