CHƯƠNG 1. Tổng quan về Composite 1. Khái niệm: Vật liệu Composite là vật liệu được chế tạo từ hai hay nhiều thành phần khác nhau. Mỗi thành phần lại có những đặc trưng cơ – lý – hóa riêng biệt, khi tổng hợp chúng lại, sẽ cho một vật liệu hoàn toàn mới, khác so với những vật liệu ban đầu.
Vật liệu mới đó được gọi là vật liệu composite. Từ “Composite” xuất phát từ gốc Tiếng Anh có nghĩa là “hỗn hợp, tổng hợp, phức hợp…”. Trong nhiều tài liệu khoa học, thuật ngữ “vật liệu mới” đồng nghĩa với vật liệu composite. Vật liệu Composite 1.
Quá trình hình thành và phát triển: Vật liệu Composite đã xuất hiện từ rất lâu trong cuộc sống, khoảng 5.000 năm trước Công nguyên người cổ đại đã biết vận dụng vật liệu composite vào cuộc sống (ví dụ: sử dụng bột đá trộn với đất sét để đảm bảo sự dãn nở trong quá trình nung đồ gốm). Người Ai Cập đã biết vận dụng vật liệu Composite từ khoảng 3.000 năm trước Công nguyên, sản phẩm điển hình là các thuyền đan bằng tre chát mùn cưa và nhựa thông hay các vách tường đan tre chát bùn với rơm, dạ. Sự phát triển của vật liệu composite đã được khẳng định và mang tính đột biến vào những năm 1930 khi mà các nhà khoa học đã nghiên cứu, ứng dụng thành công sợi thuỷ tinh; sau đó họ đã dùng để gia cường cho Polyeste không NO và giải pháp này đã được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp chế tạo máy bay, tàu chiến phục vụ cho đại chiến thế giới lần thức hai. Trang 18 Luan van Năm 1950 bước đột phá quan trọng trong ngành vật liệu Composite đó là sự xuất hiện của nhựa Epoxy và các sợi gia cường như Polyeste, nylon,… Từ năm 1970 đến nay vật liệu composite nền chất dẻo đã được đưa vào sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp và dân dụng, y tế, thể thao, quân sự vv.
Ưu điểm của vật liệu Composite. Tính ưu việt của vật liệu Composite là khả năng chế tạo từ vật liệu này thành các kết cấu sản phẩm theo những yêu cầu kỹ thuật khác nhau mà ta mong muốn. Các đặc tính chủ yếu của vật liệu Composite là nhẹ - chắc – bền – không gỉ - chịu hóa chất – chịu thời tiết. Các thành phần cốt của Composite có độ cứng, độ bền cơ học cao, vật liệu nền luôn đảm bảo cho các thành phần liên kết hài hoà tạo nên các kết cấu có khả năng chịu nhiệt và chịu sự ăn mòn của vật liệu trong điều kiện khắc nghiệt của môi trường.
Nhược điểm của vật liệu Composite. - Vật liệu Composite khó có thể tái chế khi không sử dụng hay là phế phẩm trong quá trình sản xuất. - Giá thánh nguyên liệu thô làm nên vật liệu Composite khá cao. Phương pháp gia công vật liệu Composite đòi hỏi mất nhiều thời gian - Việc phân tích mẫu vật liệu Composite và cơ, lý, hóa tính rất phức tạp.
Phân loại vật liệu Composite. Vật liệu composite được phân loại theo hình dạng và theo bản chất của vật liệu thành phần: 1. Phân loại theo hình dạng: Vật liệu Composite độn dạng sợi: Khi vật liệu tăng cường có dạng sợi, ta gọi là Composite độn dạng sợi. Sợi có tính cơ lý hóa cao hơn độn dạng hạt, tuy nhiên sợi có giá thành cao hơn.
Sợi có chiều dài lớn hơn rất nhiều so với đường kính của nó. Tỉ lệ độ dài/đường kính (l/d) được biết đến như là tỉ số hướng và có thể thay đổi. Sợi liên tục có tỉ số hướng dài, trong khi đó sợi gián đoạn thì có tỉ số hướng ngắn hơn. Composite cốt sợi liên tục thường có hướng ưu tiên còn sợi gián đoạn lại thường có hướng ngẫu nhiên.
Trang 19 Luan van Hình 1. Composite sợi liên tục và sợi gián đoạn [1] Cốt sợi có thể là sợi tự nhiên (sợi đay, sợi gai, xơ dừa, xơ tre, bông.), có thể là sợi nhân tạo (sợi thủy tinh, sợi vải, sợi carbon…). Tùy theo nhu cầu sử dụng mà người ta chế tạo sơi thành nhiều dạng khác nhau: sợi ngắn, sợi dài, sợi rối, tấm sợi… Hình 1. Một số loại Composite cốt sợi [1] Việc trộn thêm các loại cốt sợi này vào hỗn hợp có tác dụng làm tăng độ bền cơ học cũng nhƣ độ bền hoá học của vật liệu như: khả năng chịu được va đập; độ giãn nở cao; khả năng cách âm tốt; tính chịu ma sát – mài mòn; độ nén, độ uốn dẻo và độ kéo đứt cao; khả năng chịu được trong môi trường ăn mòn như: muối, kiềm, axít… Những khả năng đó đã chứng tỏ tính ưu việt của hệ thống vật liệu mới so với các loại Polyme thông thường.
Vật liệu Composite độn dạng hạt: Khi vật liệu tăng cường có dạng hạt, các tiểu phân hạt độn phân tán vào chất nền. Các loại hạt thường được sử dụng là: silica, vẩy mica, vẩy kim loại, độn khoáng, cao lanh, đất sét, bột talic, hay graphite, carbon… Hạt khác sợi ở chỗ nó không có kích thước ưu tiên. Các composite cốt hạt có kích thước tương tự nhau ở tất cả các hướng. Chúng có thể ở dạng cầu, dạng tấm phẳng Trang 20 Luan van hoặc ở bất kì các hình dạng thông thường hay không thông thường khác.
Composite cốt hạt có xu hướng yếu hơn và độ cứng kém hơn so với composite cốt sợi liên tục, nhưng chúng lại rẻ hơn nhiều. Composite cốt hạt thường chứa chất gia cường ít (40- 50% thể tích) do đó khó gia công và dễ bị gãy. Chất độn dạng hạt được sử dụng với mục đích sau: - Giảm giá thành, tăng thể tích cần thiết đối với độn trơ, tăng độ bền cơ lý, hoá, nhiệt, điện, khả năng chậm cháy đối với độn tăng cường. - Dễ đúc khuôn, giảm sự tạo bọt khí trong nhựa có độ nhớt cao.
- Cải thiện tính chất bề mặt vật liệu, chống co rút khi đóng rắn, che khuất sợi trong cấu tạo tăng cường sợi, giảm toả nhiệt khi đóng rắn. Một số loại Composite cốt hạt [1] 1. Phân loại theo bản chất, thành phần. Composite nền hữu cơ: composite nền giấy (các tông), composite nền nhựa, nền nhựa đường, nền cao su (tấm hạt, tấm sợi, vải bạt, vật liệu chống thấm, lốp ô tô xe máy),.
Loại nền này thường có thể kết hợp với mọi dạng cốt liệu, như: sợi hữu cơ (polyamit, kevlar (là sợi aramit cơ tính cao),.), sợi khoáng (sợi thủy tinh, sợi cacbon,.), sợi kim loại (Bo, nhôm,. Vật liệu composite nền hữu cơ chỉ chịu được nhiệt độ tối đa là khoảng 200 ÷ 300 °C. Composite nền khoáng chất: bê tông, bê tông cốt thép, composite nền gốm, composite cacbon - cacbon. Thường loại nền này kết hợp với cốt dạng: sợi kim loại (Bo, thép,.), hạt kim loại (chất gốm kim), hạt gốm (gốm cacbua, gốm Nitơ,.
Composite nền kim loại: nền hợp kim titan, nền hợp kim nhôm,. Thường kết hợp với cốt liệu dạng: sợi kim loại (Bo,.), sợi khoáng (cacbon, SiC,. Composite nền kim loại hay nền khoáng chất có thể chịu nhiệt độ tối đa khoảng 600÷1.000 °C (nền gốm tới 1. Cấu tạo của vật liệu Composite.
Chất nền: Trang 21 Luan van Là chất kết dính, tạo môi trƣờng phân tán, đóng vai trò truyền ứng suất sang độn khi có ngoại lực tác dụng lên vật liệu. Có thể tạo thành từ một chất hoặc hỗn hợp nhiều chất được trộn lẫn một cách đồng nhất tạo thể liên tục. Chất nền có vai trò: - Liên kết toàn bộ các phần tử cốt thành một khối composite thống nhất. - Tạo khả năng để tiến hành các phương pháp gia công vật liệu composite thành các chi tiết thiêt kế.
- Che phủ, bảo vệ cốt tránh các hư hỏng do tác dụng của môi trường. - Vật liệu nền (pha nền) trong cấu trúc của vật composite không chịu trực tiếp tải trọng hay ứng suất tác dụng lên vật liệu. Nó chỉ đóng vai trò trung gian truyền dẫn ứng suất hay tải trọng vào bên trong cho vật liệu đóng vai trò là chất độn (pha cốt). Sự hòa hợp giữa pha nền và pha cốt cũng là một nhân tố quan trọng trong việc thiết kế cấu trúc composite.
Trong thực tế, người ta có thể sử dụng nhựa nhiệt rắn hay nhựa nhiệt dẻo làm polymer nền: - Nhựa nhiệt dẻo: PE (polyethylene), PS (polystyrene), ABS (acrylonytril butadien styrene), PVC (polyvynyl clorur)… độn được trộn với nhựa, gia công trên máy ép phun ở trạng thái nóng chảy. - Nhựa nhiệt rắn: PU (polyurethane), PP (polypropylene), UF, Epoxy, Polyester không no, gia công dƣới áp suất và nhiệt độ cao, riêng với epoxy và polyester không no có thể tiến hành ở điều kiện thường, gia công bằng tay (hand lay-up method). Nhìn chung, nhựa nhiệt rắn cho vật liệu có cơ tính cao hơn nhựa nhiệt dẻo. Một số loại nhựa nhiệt rắn thông thường: Polyester: Nhựa polyester được sử dụng rộng rãi trong công nghệ composite, Polyester loại này thường là loại không NO, đây là nhựa nhiệt rắn, có khả năng đóng rắn ở dạng lỏng hoặc ở dạng rắn nếu có điều kiện thích hợp.
Thông thường người ta gọi polyester không NO là nhựa polyester hay ngắn gọn hơn là polyester. Polyester có nhiều loại, đi từ các acid, glycol và monomer khác nhau, mỗi loại có những tính chất khác nhau. Sự khác nhau phụ thuộc vào các yếu tố sau: - Thành phần nguyên liệu (loại và tỷ lệ các chất sử dụng). - Phương pháp tổng hợp.
- Trọng lượng phân tử. Trang 22 Luan van - Hệ đóng rắn (monomer, chất xúc tác, chất xúc tiến). - Hệ chất độn. Bằng cách thay đổi các yếu tố trên, người ta sẽ tạo ra nhiều loại nhựa UPE có các tính chất đặc biệt khác nhau tùy thuộc vào yêu cầu sử dụng.
Có hai loại polyester chính thường sử dụng trong công nghệ composite. Nhựa orthophthalic cho tính kinh tế cao, được sử dụng rộng rãi. Còn nhựa isophthalic lại có khả năng kháng nước tuyệt vời nên được xem là vật liệu quan trọng trong công nghiệp, đặc biệt là hàng hải. Polyester có thời gian tồn trữ ngắn là do hiện tượng tự đóng rắn của nó sau một thời gian.
Thông thường, người ta thêm vào một lượng nhỏ chất ức chế trong quá trình tổng hợp polyester để ngăn ngừa hiện tượng này. Khi đã đóng rắn, polyester rất cứng và có khả năng kháng hoá chất. Quá trình đóng rắn hay tạo kết ngang được gọi là quá trình Polymer hóa. Đây là phản ứng hoá học chỉ có một chiều.
Cấu trúc không gian này cho phép nhựa chịu tải được mà không bị giòn. Cần phải chuẩn bị hỗn hợp nhựa trước khi sử dụng. Nhựa và các phụ gia khác phải được phân tán đều trƣớc khi cho xúc tác vào. Phải khuấy đều và cẩn thận để loại bỏ bọt khí trong nhựa ảnh hưởng quá trình gia công.