Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Chăn nuôi là một trong hai phân ngành nòng cốt của nền nông nghiệp Việt Nam, nơi có hơn 70% dân số sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Cùng với sự chuyển dịch từ quy mô chăn nuôi nông hộ truyền thống sang các trang trại công nghiệp tập trung, việc nhập nội các giống lợn ngoại cao sản như Landrace, Yorkshire, Duroc và ứng dụng công nghệ chuồng trại khép kín đã được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng suất thịt xẻ và chất lượng con giống. Trong cơ cấu chuỗi sản xuất chăn nuôi lợn, đàn lợn nái giữ vai trò then chốt; năng suất sinh sản và thể trạng của nái quyết định trực tiếp đến số lượng lợn con cai sữa, tốc độ sinh trưởng cũng như tỷ lệ nuôi sống của đàn lợn thương phẩm. Tuy nhiên, chăn nuôi lợn nái thâm canh quy mô lớn thường xuyên đối mặt với các bệnh lý sản khoa (đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú) và các hội chứng tiêu chảy, hô hấp ở lợn con theo mẹ, gây thiệt hại đáng kể về kinh tế nếu quy trình chăm sóc, vệ sinh phòng dịch không được chuẩn hóa.
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lò Thu Yến với đề tài "Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản tại trại lợn Việt Anh, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng" được thực hiện nhằm giải quyết các yêu cầu thực tiễn trên tại một cơ sở chăn nuôi gia công theo tiêu chuẩn công nghiệp.
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định gồm 3 nội dung:
- Củng cố kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp thông qua việc áp dụng quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn nái và lợn con theo mẹ.
- Giúp sinh viên chẩn đoán và đưa ra phác đồ điều trị một số bệnh thường gặp trên đàn lợn nái và lợn con theo mẹ.
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con theo mẹ nuôi tại trại.
Nhiệm vụ và yêu cầu nghiên cứu bao gồm:
- Đánh giá quy trình chăn nuôi tại trại Việt Anh, xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.
- Nắm vững và thực hiện nghiêm ngặt quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh cho đàn lợn nái và lợn con.
- Thực hiện đầy đủ các quy định kỹ thuật, an toàn sinh học tại cơ sở chăn nuôi.
- Rèn luyện kỹ thuật, nâng cao tay nghề thao tác lâm sàng thú y trong điều kiện thực tế sản xuất.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Đàn lợn nái ngoại sinh sản (giống Landrace và Yorkshire), lợn đực giống Duroc và đàn lợn con theo mẹ.
- Địa điểm nghiên cứu: Trại lợn Việt Anh (chủ trại: ông Lê Khắc Nhạc), thôn An Bảo, xã Hiệp Hòa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng (mô hình gia công cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam).
- Thời gian nghiên cứu: Quá trình thực tập lâm sàng kéo dài 6 tháng; số liệu theo dõi sinh sản và bệnh tật thu thập liên tục từ tháng 12/2018 đến tháng 5/2019, cùng với số liệu tổng hợp cơ cấu đàn giai đoạn 2017 đến tháng 5/2019.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Chuyên đề được xây dựng dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết chuyên ngành chăn nuôi - thú y và các tài liệu chuyên khảo trong nước, quốc tế:
- Khung lý thuyết về dinh dưỡng và chăm sóc: Ứng dụng quy trình dinh dưỡng và kỹ thuật chăm sóc lợn nái theo giai đoạn chửa, đẻ và nuôi con của PGS.TS. Trần Văn Phùng và cs. (2004). Tiêu chuẩn định mức thức ăn công nghiệp sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam (các mã cám 566F, 567SF cho nái và 550SF/550F cho lợn con).
- Khung lý thuyết về dịch tễ và phòng bệnh thú y: Nguyên tắc sử dụng vắc xin, cơ chế hình thành đáp ứng miễn dịch và các nguyên tắc điều trị toàn diện bệnh truyền nhiễm gia súc của PGS.TS. Nguyễn Bá Hiên và TS. Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012).
- Lý thuyết bệnh học chuyên khoa: Nghiên cứu hội chứng đẻ khó của Trần Văn Bình (2010); cơ chế bệnh sinh và triệu chứng viêm tử cung sau đẻ ở lợn nái của PGS.TS. Trần Tiến Dũng và cs. (2002), GS.TS. Phạm Sỹ Lăng và cs. (2002, 2003), TS. Nguyễn Xuân Bình (2000), TS. Nguyễn Văn Điền (2015), Smith và cs. (1995); nguyên nhân và biểu hiện bệnh viêm vú ở lợn nái của Christensen và cs. (2007), TS. Ngô Nhật Thắng (2006); bệnh phân trắng lợn con do vi khuẩn Escherichia coli của Ngày và Fekete (2005), TS. Lê Thị Hoài (2008), Glawisschning và Bacher (1992); bệnh viêm khớp do Streptococcus suis của TS. Nguyễn Ánh Tuyết (2015); bệnh viêm phổi do Mycoplasma hyopneumoniae.
- Danh mục dược phẩm và biệt dược sử dụng: Oxytocin USP 20 Units, Amoxinject LA (Amoxicillin trihydrate 150 mg/ml), Analgin (25.000 mg), phức hợp Vitamin A - D3 - C, Nova-Fe+B12 (Iron 10%), Nova Amcoli (Ampicillin 10.000 mg, Colistin sulfate 25 triệu UI), Toltrazuril 5%, Hitamox LA (Amoxicillin 20%), Penstrep LA (Procaine benzylpenicillin, Benzathine benzylpenicillin, Dihydrostreptomycin sulphate), Amoxicol (Amoxicillin 100.000 mg/kg).
Phương pháp nghiên cứu và thu thập dữ liệu:
- Phương pháp điều tra gián tiếp: Khai thác số liệu lưu trữ tại văn phòng trang trại thông qua sổ ghi chép phối giống, thẻ nái treo tại chuồng đẻ, sổ theo dõi dịch tễ và phỏng vấn trực tiếp cán bộ kỹ thuật, kỹ sư phụ trách chuồng, công nhân chăn nuôi.
- Phương pháp theo dõi và chẩn đoán lâm sàng: Quan sát trực tiếp trạng thái cơ thể, nhịp thở, độ căng cứng của bầu vú, màu sắc và tính chất dịch tiết âm đạo, tình trạng rặn đẻ ở lợn nái; kiểm tra trạng thái vận động khớp, màu sắc và thể trạng phân, triệu chứng ho, kiểu thở ở lợn con.
- Phương pháp can thiệp kỹ thuật trực tiếp: Trực tiếp thực hiện các thao tác chuyên môn bao gồm: trực đỡ đẻ, can thiệp đẻ khó (tiêm thuốc trợ đẻ, móc thai bằng tay), lau chất nhày, hô hấp nhân tạo cho lợn ngạt sơ sinh, cắt rốn, mài nanh, bấm số tai, cắt đuôi, tiêm sắt, thiến lợn đực con và phẫu thuật thoát vị bẹn (hecni).
- Phương pháp thử nghiệm điều trị: Ứng dụng các phác đồ điều trị nội khoa tại chuồng cho từng nhóm bệnh lý trên lợn nái (đẻ khó, viêm tử cung, viêm vú) và lợn con (phân trắng, viêm khớp, viêm phổi), ghi nhận thời gian lành bệnh và tỷ lệ khỏi bệnh.
- Phương pháp xử lý số liệu: Toàn bộ số liệu thô thu thập được tổng hợp và phân tích thống kê mô tả (tính tần suất, tỷ lệ phần trăm) bằng phần mềm Microsoft Excel.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1. Mở đầu
Phần này trình bày lý do chọn đề tài dựa trên vai trò của ngành chăn nuôi lợn trong nền kinh tế quốc dân và thực tế phát triển các trang trại công nghiệp liên doanh. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý đàn nái sinh sản nhằm cung cấp con giống năng suất cao cho thị trường. Phần mở đầu cũng xác định rõ 3 mục đích đào tạo gắn với thực hành sản xuất và 4 yêu cầu kỹ thuật sinh viên phải hoàn thành trong thời gian thực tập.
Phần 2. Tổng quan nghiên cứu
Chương này tập trung mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện Vĩnh Bảo, Hải Phòng (nơi giáp ranh ba con sông Luộc, sông Hóa, sông Thái Bình với đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa Bắc Bộ). Về cơ sở thực tập, Trại lợn Việt Anh hoạt động từ năm 2010, là trại gia công khép kín cho Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam với tổng diện tích 47.000 m2 (chuồng trại: 13.000 m2; ao hồ chứa nước và nuôi cá: 25.000 m2; công trình xây dựng: 2.000 m2; cây xanh: 5.000 m2).
Quy mô chuồng nuôi được thiết kế cho 600 nái cơ bản, bao gồm: 3 chuồng đẻ (mỗi chuồng 56 ô chia làm 2 ngăn), 1 chuồng bầu (3 dãy với tổng số 135 ô/dãy, có phòng pha chế tinh lợn), 1 chuồng cách ly lợn hậu bị (sức chứa 30 - 40 con) và 1 chuồng nuôi lợn con cai sữa (8 ô). Toàn bộ hệ thống chuồng sử dụng dàn mát ở đầu chuồng, quạt hút gió công nghiệp ở cuối chuồng, sàn bê tông cho nái và sàn nhựa cứng có bóng sưởi cho lợn con.
Về cơ sở lý luận, tác giả hệ thống hóa các đặc điểm sinh lý sinh sản, biểu hiện lâm sàng khi lợn sắp đẻ (bầu vú căng đỏ, tiết sữa non, âm hộ chảy dịch nhờn), kỹ thuật đỡ đẻ và sơ cứu lợn sơ sinh ngạt thở (bóp lồng ngực 60 lần/phút). Đồng thời, chương này tổng quan nguyên nhân, cơ chế bệnh sinh, triệu chứng lâm sàng và các phác đồ điều trị tham khảo đối với hội chứng đẻ khó, viêm tử cung (viêm nội mạc, viêm cơ, viêm tương mạc), viêm vú ở lợn nái, cùng các bệnh thường gặp ở lợn con như tiêu chảy phân trắng (E. coli), viêm khớp (Streptococcus suis) và viêm phổi (Mycoplasma hyopneumoniae). Tác giả cũng tổng hợp các nghiên cứu trong nước (Phạm Sỹ Lăng, Nguyễn Xuân Bình, Trần Tiến Dũng, Nguyễn Văn Điền) và ngoài nước (Smith, Christensen, Glawisschning) về phòng trị bệnh đường sinh dục và tiêu hóa trên gia súc.
Phần 3. Đối tượng, nội dung và phương pháp tiến hành
Phần này làm rõ đối tượng đàn lợn ngoại sinh sản tại trại Việt Anh, nội dung theo dõi và các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật. Tác giả chi tiết hóa tiêu chuẩn thành phần dinh dưỡng của các dòng cám C.P. đang áp dụng tại cơ sở:
| Loại cám |
Năng lượng trao đổi (KCal) |
Protein thô (%) |
Xơ khô (%) |
Khoáng (%) |
Ca (%) |
P (%) |
| 566F (Nái chửa tuần 1 - 15) |
2.900 |
13 |
10 |
0,6 - 1,4 |
0,5 - 1,0 |
0,4 - 0,6 |
| 567SF (Nái chửa tuần 16 & nái nuôi con) |
3.100 |
17 |
7 |
0,6 - 1,2 |
0,5 - 1,0 |
0,5 - 0,8 |
| 550SF (Lợn con tập ăn) |
3.300 |
21 |
3,5 |
0,6 - 1,2 |
0,4 - 0,9 |
0,7 - 1,3 |
Quy định khẩu phần ăn tại chuồng đẻ được kiểm soát chặt chẽ: nái trước đẻ 3 ngày ăn 2 - 2,5 kg/ngày, giảm dần xuống 1 kg vào ngày sát đẻ; sau đẻ tăng dần từ 1 kg (ngày thứ 1) lên 5 - 6 kg (ngày thứ 5 trở đi); ngày cai sữa nái ăn 1 kg/ngày và hạn chế nước uống. Tác giả cũng chi tiết hóa bảng theo dõi các dấu hiệu sinh lý theo thời gian lợn nái sắp đẻ (từ 0 - 7 ngày trước đẻ cho đến giai đoạn rặn đẻ từ 15 giây - 5 phút). Đối với lợn con, quy trình chăm sóc bao gồm: bấm nanh, cắt rốn, bấm số tai, cắt đuôi cách gốc 2,5 cm, tiêm sắt NOVA-Fe+B12 (2 ml/con), cho uống phòng tiêu chảy, thiến đực lúc 3 - 5 ngày tuổi, tập ăn lúc 3 - 5 ngày tuổi bằng cám 550, tiêm phòng vắc xin Mycoplasma, Circo lúc 14 - 18 ngày tuổi và cai sữa lúc 21 ngày tuổi.
Phần 4. Kết quả và thảo luận
Chương này công bố toàn bộ dữ liệu định lượng thu được qua 6 tháng thực tập thông qua 10 bảng số liệu:
- Quy mô cơ cấu đàn lợn qua 3 năm (2017 - tháng 5/2019): Số lượng đực giống duy trì từ 10 - 12 con; nái sinh sản duy trì từ 580 - 608 con; nái hậu bị từ 50 - 65 con.
- Công tác vệ sinh sát trùng: Thực hiện vệ sinh chuồng trại 180/180 lần (đạt 100%), quét và rắc vôi bột hành lang 180/180 lần (đạt 100%), phun thuốc sát trùng định kỳ 90/90 lần (đạt 100%).
- Kết quả phòng bệnh cho lợn con: Tiêm NOVA-Fe+B12 cho 3.007 lợn con 2 - 3 ngày tuổi (an toàn 100%); cho uống thuốc cầu trùng cho 2.995 lợn con 3 - 5 ngày tuổi (an toàn 100%); tiêm vắc xin Mycoplasma và Circo cho 2.730 lợn con lúc 18 - 21 ngày tuổi (an toàn 100%).
- Tình hình sinh sản của đàn nái (12/2018 - 5/2019): Theo dõi 376 nái đẻ, có 357 nái đẻ bình thường (chiếm 94,94%) và 19 nái phải can thiệp trợ đẻ (chiếm 5,05%). Tỷ lệ can thiệp cao nhất rơi vào tháng 3/2019 (5,80%) và tháng 2/2019 (5,56%).
- Chỉ tiêu số lượng lợn con: 376 lứa nái đẻ ra 4.769 lợn con; số lợn con nuôi sống đến cai sữa là 4.579 con, đạt tỷ lệ cai sữa bình quân 96,5% (tháng cao nhất đạt 97,9% vào tháng 3/2019).
- Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn nái (trên 248 nái theo dõi): Hội chứng đẻ khó mắc 14 con (5,64%); Viêm tử cung mắc 13 con (5,24%); Viêm vú mắc 7 con (2,82%).
- Tỷ lệ mắc bệnh trên đàn lợn con: Bệnh phân trắng chiếm tỷ lệ cao nhất là 17,03%; Viêm khớp chiếm 0,21%; Viêm phổi chiếm 0,18%.
- Kết quả điều trị bệnh đàn nái: Đẻ khó điều trị 12 con, khỏi 12 con (100%) bằng phác đồ Oxytocin kết hợp Amoxinject LA; Viêm tử cung điều trị 15 con, khỏi 14 con (93,33%) bằng Amoxinject LA phối hợp Oxytocin từ 3 - 5 ngày; Viêm vú điều trị khỏi đạt 87,50%.
- Kết quả điều trị bệnh đàn lợn con: Tiêu chảy phân trắng điều trị 945 con, khỏi 932 con (98,62%) bằng tiêm Nova-amcoli kết hợp uống Amoxicol; Viêm khớp điều trị 12 con, khỏi 8 con (66,66%) bằng Penstrep LA; Viêm phổi điều trị 8 con, khỏi 5 con (50,00%) bằng Hitamox LA.
- Thực hiện các công việc thú y khác: Đỡ đẻ 376 nái (an toàn 100%); Cắt đuôi 4.310 lợn con (an toàn 100%); Bấm số tai 3.045 lợn con (an toàn 100%); Thiến 850 lợn đực con (an toàn 100%); Phẫu thuật mổ Hecni 10 lợn con, an toàn 5 con (50,00%).
Phần 5. Kết luận và đề nghị
Tác giả đúc kết lại các thành công trong việc duy trì an toàn dịch bệnh, tỷ lệ sinh sản cao của nái và tỷ lệ sống của lợn con tại trại; đồng thời đưa ra các đề nghị quản lý về chế độ dinh dưỡng, điều kiện chuồng trại nhằm giảm thiểu stress và bệnh lý hô hấp, tiêu hóa trong giai đoạn thời tiết giao mùa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã ghi nhận các chỉ số định lượng cụ thể phản ánh hiệu quả sản xuất và thú y tại cơ sở:
| Nhóm đối tượng |
Chỉ tiêu theo dõi |
Tổng số theo dõi |
Số lượng đạt/khỏi |
Tỷ lệ (%) |
| Lợn nái sinh sản |
Đẻ bình thường |
376 lứa |
357 nái |
94,94 |
|
Đẻ cần can thiệp |
376 lứa |
19 nái |
5,05 |
|
Điều trị hội chứng đẻ khó |
12 nái |
12 nái |
100,00 |
|
Điều trị viêm tử cung |
15 nái |
14 nái |
93,33 |
|
Điều trị viêm vú |
8 nái |
7 nái |
87,50 |
| Lợn con theo mẹ |
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa |
4.769 con |
4.579 con |
96,50 |
|
Điều trị tiêu chảy phân trắng |
945 con |
932 con |
98,62 |
|
Điều trị viêm khớp |
12 con |
8 con |
66,66 |
|
Điều trị viêm phổi |
8 con |
5 con |
50,00 |
| Kỹ thuật can thiệp |
Cắt đuôi sơ sinh |
4.310 con |
4.310 con |
100,00 |
|
Bấm số tai |
3.045 con |
3.045 con |
100,00 |
|
Thiến lợn đực |
850 con |
850 con |
100,00 |
|
Phẫu thuật thoát vị bẹn (hecni) |
10 con |
5 con |
50,00 |
Giải pháp và cải tiến kỹ thuật tác giả đã trực tiếp tham gia áp dụng tại trại:
- Quy trình thao tác một lần trên lợn sơ sinh: Thay vì thực hiện rải rác trong nhiều ngày gây stress cho đàn con, trại đã kết hợp thực hiện đồng thời các kỹ thuật cắt đuôi, mài nanh, bấm số tai, tiêm bổ sung sắt NOVA-Fe+B12 (2 ml/con) và cho uống Amox phòng ngừa tiêu chảy ngay sau khi sinh 1 ngày.
- Thiến lợn đực sớm: Chuyển đổi thời điểm thiến lợn đực con nuôi thịt từ 7 - 10 ngày tuổi xuống thực hiện sớm vào ngày thứ 3 - 5 sau sinh, kết hợp tiêm phòng Amox (1 ml/con) và uống phòng cầu trùng, giúp vết thương mau lành và lợn con nhanh phục hồi.
- Phác đồ điều trị viêm tử cung tối ưu: Ứng dụng phối hợp kháng sinh tác dụng kéo dài Amoxinject LA (liều 24 ml/con, tiêm nhắc lại sau 3 ngày) kết hợp Oxytocin (2 ml/con) để kích thích co bóp tống đẩy dịch viêm và dịch sản mà không cần thụt rửa tử cung bằng dung tích lớn đối với các thể viêm nặng, hạn chế tối đa nguy cơ tổn thương sâu niêm mạc cơ tử cung.
Đóng góp của khóa luận:
- Chuyên đề cung cấp số liệu thực nghiệm đầy đủ về cơ cấu đàn, năng suất sinh sản, tỷ lệ mắc bệnh và hiệu quả can thiệp dược lý trên quy mô đàn 600 nái ngoại trong điều kiện thâm canh tại vùng đồng bằng duyên hải Bắc Bộ.
- Chứng minh tính hiệu quả của mô hình chăn nuôi gia công khép kín theo tiêu chuẩn C.P. khi tuân thủ nghiêm ngặt quy trình vệ sinh an toàn sinh học (100% lợn con tiêm sắt, phòng cầu trùng và vắc xin Mycoplasma, Circo đạt an toàn tuyệt đối).
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có các hạn chế được rút ra từ điều kiện nghiên cứu thực tế tại trại:
- Thời gian theo dõi lâm sàng và thu thập số liệu chi tiết chỉ diễn ra trong vòng 6 tháng (từ tháng 12/2018 đến tháng 5/2019), chưa bao quát được toàn bộ các tháng mùa hè nắng nóng đỉnh điểm để đánh giá trọn vẹn sự biến thiên của tỷ lệ mắc bệnh sinh sản và hô hấp theo đủ 4 mùa trong năm.
- Chẩn đoán bệnh lý sản khoa và bệnh lợn con tại cơ sở hoàn toàn dựa vào quan sát triệu chứng lâm sàng và cảm quan đại thể; chưa có điều kiện kết hợp với các kỹ thuật xét nghiệm vi sinh vật trong phòng thí nghiệm (nuôi cấy, phân lập mầm bệnh vi khuẩn, giám định sinh hóa hay làm kháng sinh đồ) để kiểm tra mức độ kháng thuốc của các chủng E. coli, Streptococcus suis tại trang trại.
- Cỡ mẫu điều trị đối với một số ca bệnh như viêm phổi (8 con) và phẫu thuật hecni (10 con) còn nhỏ, dẫn đến tỷ lệ điều trị thành công (50,00%) chưa mang tính đại diện thống kê cao.
Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Cần tiếp tục theo dõi biến động năng suất sinh sản và dịch bệnh trên đàn nái qua nhiều chu kỳ đẻ liên tiếp trong các năm tiếp theo.
- Bổ sung các phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng, kiểm tra hiệu giá kháng thể sau tiêm vắc xin và nghiên cứu giải pháp cải thiện tiểu khí hậu chuồng nuôi trong các giai đoạn thời tiết nồm ẩm hoặc chuyển mùa lạnh.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận có giá trị thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:
- Sinh viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y: Cung cấp quy trình mẫu về ghi chép sổ sách chuồng trại, phương pháp tính toán các chỉ tiêu sinh sản đàn nái và kỹ thuật thao tác lâm sàng (đỡ đẻ, mài nanh, cắt đuôi, bấm tai, thiến đực, sơ cứu ngạt).
- Cán bộ kỹ thuật và chủ trang trại chăn nuôi lợn: Cung cấp định mức khẩu phần ăn chuẩn hóa theo từng ngày trước và sau đẻ đối với nái ngoại thâm canh; tham khảo bảng dấu hiệu nhận biết thời điểm đẻ để bố trí trực đỡ đẻ hợp lý.
- Phần nội dung đáng tham khảo nhất:
- Bảng chi tiết về các dấu hiệu lâm sàng của lợn nái sắp đẻ theo từng khung thời gian (từ 7 ngày đến 5 phút trước đẻ).
- Định mức khẩu phần ăn chi tiết tại chuồng đẻ (bảng 3.2 trong văn bản).
- Phác đồ phối hợp thuốc cụ thể (tên biệt dược, liều lượng tính theo thể trọng, liệu trình tiêm) trong kiểm soát hội chứng đẻ khó, viêm tử cung và tiêu chảy lợn con.
Câu hỏi thường gặp
1. Quy mô chuồng trại và cơ cấu tổ chức của trại lợn Việt Anh được bố trí như thế nào?
Trang trại có tổng diện tích 47.000 m2 (4,7 ha) với sức chứa thiết kế cho 600 nái cơ bản, gồm 3 chuồng đẻ (56 ô/chuồng), 1 chuồng bầu (3 dãy, 135 ô/dãy), 1 chuồng cách ly (30 - 40 nái hậu bị) và 1 chuồng cai sữa (8 ô). Cơ cấu nhân sự gồm 3 nhóm: nhóm quản lý (1 chủ trại), nhóm kỹ thuật (1 kỹ sư) và nhóm công nhân (1 nhà bếp, 1 làm vườn, 2 tổ trưởng phụ trách chuồng bầu và chuồng đẻ, 7 công nhân và 4 sinh viên thực tập).
2. Định mức thức ăn cho lợn nái trước và sau khi đẻ tại trại được quy định ra sao?
Trước khi đẻ 3 ngày, lợn nái ăn từ 2 - 2,5 kg cám 567SF/ngày; ngày trước đẻ 2 ngày ăn 1,5 - 2 kg; ngày sát đẻ ăn 1 kg hoặc nhịn ăn nhưng uống nước tự do. Sau khi đẻ, ngày thứ nhất nái ăn 1 kg; ngày thứ 2 ăn 1,5 - 2 kg; ngày thứ 3 ăn 2,5 - 3 kg; ngày thứ 4 ăn 3 - 4 kg; từ ngày thứ 5 trở đi ăn từ 5 - 6 kg/ngày chia làm 3 bữa (sáng, chiều, đêm). Ngày cai sữa, lợn mẹ ăn giảm xuống còn 1 kg/ngày và hạn chế nước uống.
3. Tác giả nhận biết các dấu hiệu lợn nái sắp đẻ dựa trên những biến đổi sinh lý nào?
Các dấu hiệu được theo dõi theo trình tự thời gian: Trước đẻ 0 - 7 ngày vú căng cứng, âm hộ trương mọng; trước 2 ngày bầu vú cương cứng hơn và tiết chất lỏng trong; trước 12 - 14 giờ nái bồn chồn, tuyến vú bắt đầu tiết sữa; trước 6 giờ sữa tiết nhiều hơn qua 2 lỗ tia sữa; trước 2 - 4 giờ vú có sữa non vọt thành tia dài; trước 30 phút - 2 giờ nái tăng nhịp thở, đứng ngồi không yên; trước 15 - 30 phút âm hộ tiết dịch nhờn màu hồng lẫn phân su; trước 15 giây - 5 phút nái nằm nghiêng, thở đứt quãng, ép bụng ép đùi và quẫy đuôi rặn đẻ.
4. Phác đồ điều trị bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trang trại gồm những loại thuốc nào và đạt tỷ lệ khỏi bao nhiêu?
Phác đồ điều trị áp dụng phối hợp: tiêm bắp kháng sinh Amoxinject LA (liều 24 ml/con, tiêm 1 lần cách nhau 3 ngày) phối hợp với thuốc co bóp tử cung Oxytocin (liều 2 ml/con), liệu trình kéo dài từ 3 - 5 ngày. Kết quả điều trị trên 15 nái mắc bệnh đã chữa khỏi 14 con, đạt tỷ lệ khỏi bệnh 93,33%.
5. Lịch phòng bệnh bằng thuốc và vắc xin cho đàn lợn con theo mẹ tại cơ sở được triển khai theo các mốc ngày tuổi nào?
Lợn con 2 - 3 ngày tuổi được tiêm NOVA-Fe+B12 (liều 2 ml/con) để phòng bệnh thiếu máu; từ 3 - 5 ngày tuổi được cho uống thuốc Toltrazuril 5% (1 ml/con) để phòng bệnh cầu trùng; từ 14 - 18 ngày tuổi (hoặc 18 - 21 ngày tuổi) được tiêm vắc xin phòng bệnh suyễn do Mycoplasma và vắc xin Circo phòng hội chứng còi cọc. Toàn bộ lợn con được tiêm phòng đều đạt tỷ lệ an toàn 100%.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lò Thu Yến đã phản ánh toàn diện việc thực hiện quy trình kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại Trại lợn Việt Anh, Hải Phòng. Dựa trên số liệu theo dõi thực tế trên 376 lứa đẻ và 4.769 lợn con sơ sinh, chuyên đề đã chứng minh hiệu quả duy trì tỷ lệ đẻ thường đạt 94,94%, tỷ lệ lợn con cai sữa đạt 96,5% cùng hiệu quả can thiệp điều trị các bệnh sản khoa và đường ruột đạt từ 87,50% đến 100%. Toàn bộ dữ liệu thực chứng và các quy trình can thiệp lâm sàng trong văn bản là nguồn tư liệu tham khảo có giá trị chuyên môn cao cho sinh viên ngành Thú y và kỹ thuật viên quản lý trại chăn nuôi lợn công nghiệp.