Đặt vấn đề Trong những năm vừa qua, ngành chăn nuôi đã gặt hái được nhiều kết quả như nâng cao sức sản xuất, hội nhập mạnh trong khu vực cũng như trên thị trường quốc tế. Năm 2021, tổng đàn lợn của Việt Nam đạt khoảng 28,1 triệu con, đứng đầu Đông Nam Á, đứng thứ 2 châu Á và đứng thứ 6 trên toàn thế giới. Đàn gia cầm xấp xỉ 530 triệu con, đứng thứ 10 châu Á và xếp vị trí 31 trên thế giới. Đàn trâu đạt khoảng 2,3 triệu con; đàn bò đạt 6,5 triệu con, trong đó bò sữa khoảng 357 nghìn con; đàn dê cừu khoảng 2,8 triệu con.
Với làn sóng gia tăng chung của nền kinh tế, ngành chăm sóc thú y ở việt nam cũng đang dần dần tiến triển nhằm cung cấp nhiều sản phẩm có giá trị cho cộng đồng và có vai trò mấu chốt trong nền kinh tế quốc dân. Ngành chăm sóc thú y nói chung,ngành chăm sóc heo nói riêng là một nghề có truyền thống lâu đời và nổi tiếng của người dân ta. Ngành chăm sóc lợn đã và đang thực hiện cả về lượng, giá trị đàn lợn và hạ tầng đáp ứng chăm sóc, toàn bộ vì mục tiêu nâng tầm giá trị kết quả cho đòi hỏi tiêu dùng của nhân dân nội địa và xuất khẩu. Tuy nhiên, ngành chăn nuôi lợn nước ta cũng gặp nhiều khó khăn.
Theo báo cáo số liệu từ Cục Chăn nuôi, trong 10 năm qua, đàn lợn của Việt Nam có nhiều biến dộng. Từ năm 2011 - 2021, tổng đàn lợn có sự tăng trưởng 3,4%. Có thể thấy, năm 2019, ngành chăn nuôi lợn nước ta có sự sụt giảm tổng đàn nghiêm trọng, xuống còn khoảng 22 triệu con, do ảnh hưởng từ dịch tả lợn châu Phi. Năm 2016, là năm chăn nuôi đỉnh cao khi tổng đàn lợn đạt 29 triệu con.
Đối với lợn nái, đặc biệt là lợn nái ngoại được chăm sóc theo cách công nghiệp thì các bệnh về sinh đẻ nảy sinh quen thuộc, do năng lực thích ứng của đàn nái ngoại với điều kiện thời tiết việt nam còn kém. Ngoài ra, trong tiến trình sinh nở, lợn nái dễ dàng bị nhiễm các loại vi khuẩn như: Streptococcus, n Staphylococcus, E. đột nhập và tạo ra nhiều bệnh nhiểm khuẩn sau đẻ như: viêm cơ quan sinh dục, viêm âm môn. Bệnh viêm dạ con, viêm vú là những bệnh không những tác động không qua khâu trung gian tới năng lực sinh đẻ của lợn mẹ, mà lại là một lí do khiến cho tỉ lệ nhiễm bệnh phân trắng ở heo con trong khoảng thời gian theo mẹ tăng vọt.
Nếu không chữa trị đúng lúc, bệnh sinh đẻ có khả năng mang tới các bệnh: loạn sinh đẻ, chậm sinh, không thể sinh con, viêm phúc mạc, nhiểm khuẩn huyết và bỏ mạng. Chính vì thế, bệnh sinh đẻ ở lợn nái ảnh hưởng khá lớn đến giá trị đàn lợn con nói riêng, cũng là tác động đến năng suất, giá trị và hữu hiệu của toàn ngành chăm sóc lợn nói chung. Từ thực tế trên cho thấy, để biết được nguyên nhân gây bệnh và đưa ra biện pháp phòng, trị bệnh sinh sản của đàn lợn nái là rất cần thiết. Do đó em đã tiến hành thực hiện chuyên đề:“Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trại lợn Chu Bá Thơ huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang” 1.
Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 1. Mục đích - Thực hiện định hướng học đi cùng với hành, lý thuyết gắn với thực tế, nhằm cải thiện lý thuyết và nâng cao hiểu biết về thực tiễn, đáp ứng cho công việc về sau. - Nắm được quy trình chăm sóc và vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn nái sinh đẻ tại trại lợn Chu Bá Thơ huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Yêu cầu - Theo dõi quá trình mắc một số bệnh sinh sản trên đàn lợn nái nuôi tại trại.
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và điều trị một số bệnh cho đàn lợn nái nuôi tại trại đạt hiệu quả cao. - Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở. - Thực hiện tốt phúc lợi động vật. n PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.
Điều kiện tại cơ sở nơi thực tập 2. Điều kiện của trang trại 2. Vị trí địa lý Trang trại Chu Bá Thơ là trại lợn tư nhân, trực thuộc thôn Năm, làng Chàng, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Vị trí địa lý: - Phía Bắc giáp xóm 7, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Phía Nam giáp xóm 4, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. - Phía Đông giáp xóm 3, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang. - Phía Tây giáp xóm 9, xã Việt Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. Đặc điểm khí hậu Bắc giang nằm trong khu vực có thời tiết nhiệt đới có mùa đông lạnh, mùa hè nóng ẩm, mùa xuân và mùa thu có thời tiết ôn hòa, mát mẻ.
Nhiệt độ bình quân 22 – 23oC, độ ẩm thấp từ 73 - 87%. Cơ cấu tổ chức trại Cơ cấu tổ chức trại bao gồm: - Chủ trại: 01 - Kĩ sư tại trại: 02 - Công nhân: 03 - Sinh viên thực tập: 02 2. Cơ sở vật chất của trang trại Trại lợn Chu Bá Thơ nằm trong khu vực bằng phẳng thuận lợi cho việc chăn nuôi và phát triển kinh tế. Khu vực chăn nuôi có diện tích rộng khoảng 5000 m2.
Trong đó: n - Đất trồng cây ăn trái: 1200 m2 - Ao, hồ chứa nước và chăm sóc cá: 1800 m2 - Khu trại có diện tích 2000 m2 được phân thành 2 phân khu chính: khu sinh hoạt chung cho người lao động và khu chuồng trại. Khu sinh hoạt chung cho người lao động bao gồm: phòng sinh hoạt chung, nhà ăn, nhà bếp, khu vực hành chính. Khu chăn nuôi được xây dựng tạo nên chuỗi chuồng trại cho 350 nái gồm có: 2 chuồng đẻ 720 m2, 1 chuồng nái chửa 690 m2, 1 chuồng hậu bị 300 m2, 1 chuồng thịt 300 m2 và nhiều công trình kiến trúc phụ đáp ứng cho quá trình chăn nuôi như: kho thực phẩm, phòng sát trùng, kho dược phẩm, phòng tinh. Mỗi chuồng đều có đường cống thoát nước thải, các đường cống này đều thông về một bể chứa nước thải tập lớn tập trung và được giải quyết tại bể bioga.
Nguồn nước được dùng trong toàn trại được lấy từ chuỗi giếng khoan, nước được bơm lên một bể lớn trên cao để đưa nước tới những hệ thống phân phối nước uống, dàn mát và các vòi nước đáp ứng cho việc vệ sinh và trong sinh hoạt. Trang trại đã áp dụng hình thức chăn nuôi khép kín, từ khâu chọn giống đến xuất bán. Các biện pháp phương án chống dịch được thi hành đúng cách, chuyên nghiệp, toàn bộ và chủ động tập trung tinh thần chống dịch trên đàn lợn. Để bảo đảm việc chống dịch hữu hiệu mà công việc vệ sinh và sát trùng được thực hành nghiêm đúng cách, kỹ thuật.
Người lao động được cung cấp áo quần bảo hộ, ủng và nhiều đồ dùng vật dụng khác đáp ứng trong quá trình làm việc. Cơ sở tài liệu có liên quan đến chuyên đề 2. Những kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái sinh sản và đàn lợn con 2. Kỹ thuật nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ - Kỹ thuật đỡ đẻ cho lợn nái.
n Công việc thực hiện trước lúc hỗ trợ sinh cho lợn nái đẻ: dựa vào thẻ nái, lịch phối giống để ước tính ngày đẻ của lợn một cách chuẩn xác, từ đó sắp xếp người lao động trực đẻ, quan sát hỗ trợ sinh cho lợn và xử lý đúng lúc, tránh những tình huống đáng tiếc có khả năng xảy ra. + Trang bị ô chuồng cho lợn nái đẻ: Các ô chuồng đẻ cần được tẩy rửa vệ sinh diệt khuẩn sát trùng tất cả các địa điểm nuôi tại bên trong chuồng như nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và nái mẹ. Chuồng phải khô ráo, thoáng gọn gàng vệ sinh, cung cấp đủ ánh sáng. Sau khi vệ sinh, sát trùng và tiêu độc sẽ để trống chuồng từ 4 - 5 ngày trước thời điểm cho lợn nái vào đi đẻ.
Cho lợn đi đẻ trước 5 - 7 ngày để lợn quen dần với chuồng mới và thức ăn mới. Cần vệ sinh lợn nái sạch sẽ trước khi chuyển lợn từ chuồng nái chửa sang chuồng đẻ. Lợn nái trước khi đẻ một ngày được tắm rửa bằng nước sạch để rửa trôi hết đất, phân dính trên người và sau đó tắm lại bằng nước sát trùng cuối cùng là dùng khăn thấm nước lau sạch bầu vú và âm hộ. Làm, như vậy sẽ giảm thiểu được nguy cơ lợn con mới sinh bị nhiễm khuẩn do tiếp xúc trực tiếp với lợn mẹ có chứa vi khuẩn gây bệnh.
+ Chuẩn bị ô úm: Ô úm rất quan trọng đối với lợn con, nó có tác dụng giữ ấp thân nhiệt nâng cao sức đề kháng, giảm tỉ lệ lợn mẹ đè chết con, đặc biệt là những ngày mới sinh lợn con còn yếu, mà lợn mẹ mới đẻ xong sức khỏe chưa hồi phụ. Cần chuẩn bị xong ô úm của lợn con trước khi lợn mẹ đẻ với kích thước ô úm là 0,45m x 0,9m x 0,5m. Ô úm được rửa sạch, phun sát trùng và được đặt chắc chắn trong ô chuồng lợn mẹ. Trong ô úm chuẩn bị trước thảm bóng sưởi và để trống từ 3 - 5 ngày trước thời điểm đón lợn con mới chào đời.
+ Các dụng cụ cần thiết: dao thiến, panh kẹp, kéo, cồn sát trùng, máy mài nanh, kìm cắt đuôi, kìm bấm số tai, khăn lau hoặc vải màn, bóng sưởi, n khay đựng phương tiện, thùng chứa nước, sổ sách, các loại thuốc như dược phẩm trợ đẻ, dược phẩm trợ sức, dược phẩm kháng sinh, bột khô. - Cách trực và hỗ trợ sinh cho nái đẻ: Trực và hỗ trợ sinh là công tác quan trọng để tăng tỉ lệ sống của lợn con và can thiệp kịp thời hỗ trợ lợn nái trong những tình huống đẻ khó. Việc trực, hỗ trợ sinh sẽ bằng những việc giám soát liên tục để nắm bắt được thời gian đẻ và hỗ trợ sinh cho lợn nái tránh hiện trạng lợn đẻ mà thiếu người trực đẻ, hỗ trợ sinh. - Các cách nhận biết lợn nái sắp đẻ: Lợn nái sắp đẻ bụng to võng xuống, khi lợn nằm thai cử động nhiều, lợn sẽ nằm nhiều hơn đứng.
Trước khi đẻ 3 - 5 ngày bầu vú bắt đầu cứng săn chắc. Trước khi đẻ 1 - 2 ngày nếu vắt thấy có sữa chảy ra, bộ phận sinh dục bên ngoài dãn lỏng hoặc sưng to có màu hồng đỏ, 2 bên gốc đuôi lõm xuống. Nếu thấy lợn có biểu hiện bỏ ăn hoặc ăn ít, nằm nhiều, là lúc lợn sắp đẻ.