CHƯƠNG 1 VẤN ĐỀ QUY HOẠCH, THIẾT KẾ CẢI TẠO CẢNG HÀNG KHÔNG 1. MỤC ĐÍCH QUY HOẠCH, THIẾT KẾ CẢI TẠO CẢNG HÀNG KHÔNG: Trong thời kỳ sau đổi mới và từng bước hội nhập thế giới, cùng với sự phát triển kinh tế của đất nước, ngành Hàng không dân dụng Việt nam đã có những bước tiến rất vững chắc và mạnh mẽ. Hệ thống cảng hàng không sân bay được xây dựng ở hầu khắp các vùng miền của tổ quốc. Tính đến cuối năm 2007, HKVN đã quản lý, khai thác 23 cảng hàng không, trong đó có 3 cảng hàng không quốc tế, 20 cảng hàng không địa phương.
Các cảng hàng không được chia theo 3 khu vực: Bắc-Trung-Nam, ở mỗi khu vực có 1 cảng hàng không quốc tế đóng vai trò trung tâm, và các cảng hàng không địa phương vây quanh tạo thành một cụm cảng hàng không, cụ thể là Cụm cảng hàng không Miền Bắc, miền Trung và miền Nam. Ngoài các cảng hàng không kể trên, hầu hết các địa phương trong cả nước đều có các sân bay hoặc bãi đáp máy bay đã từng được sử dụng cho máy bay cất hạ cánh, sẵn sàng có thể đầu tư cải tạo và xây dựng mới để đưa vào khai thác bay dân dụng khi có nhu cầu. Trong giai đoạn vừa qua, nhu cầu vận chuyển hành khách và hàng hoá ngày một tăng cao, đòi hỏi các cảng hàng không sân bay phải đáp ứng được nhu cầu vận chuyển đặt ra cho nó. Cụ thể, sản lượng hành khách thông qua các cảng hàng không Việt Nam giai đoạn 1995-2006 năm sau cao hơn năm trước: năm 1995 khoảng 2,5 triệu lượt khách, năm 2000 gần 3 triệu lượt khách, năm 2001 đạt gần 4 triệu lượt khách, năm 2004 khoảng 5,5 triệu lượt khách, năm 2005 khoảng 6,5 triệu lượt khách, năm 2006 là 7,45 triệu lượt khách.
Trong đó thì lượng khách quốc tế cũng không ngừng tăng lên qua các năm. LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 5 CHUYÊN NGÀNH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - KHOA CÔNG TRÌNH LƯU LƯỢNG HÀNH KHÁCH THÔNG QUA HỆ THỐNG CẢNG HÀNG KHÔNG VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 8,000 7,000 6,000 (Nghìn lượt người) 5,000 Tổng LLHK 4,000 Trong nước Ngoài nước 3,000 2,000 1,000 0 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 (Năm) Hình 1-1. Biểu đồ tăng trưởng hành khách thông qua các CHK Việt nam Sản lượng hàng hóa thông qua các cảng hàng không Việt Nam giai đoạn 1995-2006 như sau: năm 1995 khoảng 30,000 tấn, năm 2000 khoảng 45,000 tấn, năm 2004 khoảng 98,000 tấn, năm 2006 khoảng 120,000 tấn. LƯU LƯỢNG HÀNG HOÁ THÔNG QUA HỆ THỐNG CẢNG HÀNG KHÔNG VIỆT NAM QUA CÁC NĂM 130 120 110 100 90 80 (Nghìn tấn) Tổng LLHH 70 Trong nước 60 50 Ngoài nước 40 30 20 10 0 1995 1996 1997 1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 (Năm) Hình 1-2.
Biểu đồ tăng trưởng hàng hoá thông qua các CHK Việt nam LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 6 CHUYÊN NGÀNH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - KHOA CÔNG TRÌNH Như vậy, trong khoảng thời gian từ 1995 đến 2006, thị trường Hàng không Việt Nam đã phát triển với tốc độ tăng trưởng cao so với mức tăng trưởng chung của hàng không thế giới và khu vực, đạt tổng số 48,2 triệu hành khách (tăng bình quân 11%/năm), về vận chuyển hàng hoá đạt 820,7 nghìn tấn (tăng bình quân 14%/năm), với mạng lưới đường bay quốc tế rộng khắp của hai doanh nghiệp vận chuyển Hàng không Việt Nam và 24 hãng hàng không nước ngoài, nối Việt nam với 27 thành phố thuộc Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, và Châu Úc. TỈ LỆ TĂNG TRƯỞNG VẬN TẢI HÀNH KHÁCH VÀ HÀNG HOÁ CỦA HKVN Vận chuyển Tỉ lệ tăng trưởng hàng năm Năm Hành khách Hàng hoá Hành khách Hàng hoá (nghìn lượt người) (nghìn tấn) (%) (%) 1995 2435.8 Tăng trưởng trung bình 10 năm gần đây 11.2 Tăng trưởng trung bình từ năm 2001-nay 18. Với sản lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá tăng cao qua các năm, các hãng Hàng không Việt nam đã tích cực đổi mới và hiện đại hóa đội tàu bay hiện đại bao gồm các loại máy bay B777, B767, A320, A321, Fokker 70, ATR72 đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng không quốc tế và nội địa. Số lượng máy bay sở hữu trong đội máy bay của Hàng không Việt nam cũng tăng dần, từ chỗ chỉ có 6/25 chiếc vào năm 2000, 7/30 chiếc vào năm 2001, 9/33 chiếc vào năm 2002, đến năm 2004 Hàng không Việt nam đã có 17/43 chiếc.
Từ sự tăng trưởng rất mạnh mẽ về vận chuyển hành khách và hàng hoá, LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 7 CHUYÊN NGÀNH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - KHOA CÔNG TRÌNH cũng như sự phát triển không ngừng của đội tàu bay Việt nam và cả quốc tế đến và đi trên hệ thống cảng hàng không Việt nam đòi hỏi hệ thống cảng hàng không Việt nam phải đáp ứng được nhu cầu vận chuyển đặt ra. Và mặc dù hệ thống cảng hàng không sân bay của Việt nam được xây dựng khá đầy đủ trên hầu khắp các vùng miền của tổ quốc như đã đề cập ở trên. Nhưng đại bộ phận các cảng hàng không sân bay đều được xây dựng đã lâu (ngay sau thời kỳ thống nhất đất nước) nên hiện tại gần như không thể đáp ứng được nhu cầu về khai thác. Do đó cần phải đầu tư phát triển một cách tương xứng với nhu cầu vận chuyển đang ngày một gia tăng.
Các lý do nêu trên khẳng định tại sao cần phải quy hoạch, thiết kế cải tạo hệ thống cảng hàng không sân bay tại Việt nam trong giai đoạn hiện tại và phù hợp trong tương lai. VIỆC THIẾT KẾ CẢI TẠO CẢNG HÀNG KHÔNG TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM: 1. Việc thiết kế cải tạo CHK trên thế giới: Lịch sử ra đời của ngành hàng không được bắt đầu từ năm 1903 khi hai anh em người Mỹ Orville và Wilburr Wringth đã thực hiện thành công 4 chuyến bay gần Kitty Hawk bang North Carolina (Mỹ) bằng máy bay có động cơ. Trải qua quá trình phát triển khá nhanh chóng, năm 1950, khi các kỹ sư Anh, Liên Xô và Mỹ chế tạo được máy bay phản lực đã mở ra một kỷ nguyên mới của máy bay phản lực dùng vào mục đích vận chuyển hành khách và hàng hoá đường dài và siêu dài.
Máy bay phản lực ngày càng được cải tiến và hoàn thiện đã góp phần làm cho dịch vụ lữ hành bằng đường hàng không phát triển nhanh và mạnh mẽ ở các nước phát triển trong thời kỳ này. Cùng với sự phát triển của các loại máy bay phản lực vận chuyển hành khách, thì hệ thống cảng hàng không cũng được các nước đi trước dần phát triển và hoàn thiện bằng cả một quá trình nghiên cứu đưa ra quy trình thiết kế quy hoạch cảng hàng không hợp lý nhất cho mỗi điều kiện cụ thể. Việc thiết kế cải tạo các cảng hàng không trên thế giới trong quá trình phát triển là một kinh nghiệm cho Việt nam trong so sánh lựa chọn giải pháp cải tạo LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 8 CHUYÊN NGÀNH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - KHOA CÔNG TRÌNH mở rộng các cảng hàng không hiện tại nhằm đáp ứng nhu cầu vận chuyển đang ngày một lớn hơn. Ở Việt nam: Ngành hàng không của Việt nam thực sự được ra đời vào thời điểm bắt đầu từ năm 1954, đây là thời kỳ đất nước tạm thời chia làm hai miền Nam Bắc.
Ở miền Bắc, khôi phục kinh tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội, là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam đánh Mỹ. Các sân bay trong thời kỳ này, ngoài việc cải tạo các sân bay cũ do Pháp để lại thì còn xây dựng mới một số sân bay khác. Nhưng nhìn chung, quy mô các sân bay còn nhỏ, trang thiết bị còn nghèo nàn, chủ yếu để chuyên chở hàng hoá phục vụ cho sản xuất và chiến đấu là chính, còn vận chuyển hành khách với số lượng nhỏ. Từ những năm 1990 đến nay là thời kỳ đổi mới của đất nước, ngành hàng không Việt nam nói chung và hàng không dân dụng nói riêng có bước chuyển mình vượt bậc với sản lượng vận chuyển hành khách và hàng hoá tăng mạnh.
Từ đó đặt ra yêu cầu phải nâng khả năng đáp ứng của các cảng hàng không của Việt nam trong giai đoạn mới. Việc nâng khả năng đáp ứng của các cảng hàng không của Việt nam được thể hiện bằng việc mở rộng nhiều lần một số các cảng hàng không qua các giai đoạn như: Mở rộng, nâng cấp Cảng hàng không (CHK) quốc tế Nội Bài, CHK quốc tế Tân Sơn Nhất, CHK quốc tế Đà Nẵng, CHK Phú Bài,. Tuy nhiên, việc cải tạo nâng cấp các cảng hàng không của Việt nam trong thời gian qua chưa thật sự triệt để, đa phần mang tính trước mắt mà chưa có kế hoạch phát triển một cách toàn diện cho tương lai. Đây cũng là vấn đề cần có sự quan tâm của nhiều ban ngành để đưa ra một quy hoạch tổng thể và toàn diện hệ thống cảng hàng không của Việt nam.
CÁC CĂN CỨ ĐỂ XÂY DỰNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN CẢNG HÀNG KHÔNG - SÂN BAY: Để xây dựng một bản quy hoạch phát triển cảng hàng không cần các căn cứ sau: 1. Hiện trạng khai thác của cảng hàng không (như hệ thống đường băng, đường lăn, sân đỗ, khu phục vụ kỹ thuật, nhà ga hàng không, hạ tầng trước ga,.) LUẬN ÁN THẠC SỸ KỸ THUẬT 9 CHUYÊN NGÀNH XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIAO THÔNG VẬN TẢI - KHOA CÔNG TRÌNH 2. Các loại máy bay đang hoạt động trên sân bay và đặc tính kỹ thuật của chúng, tần suất hoạt động của mỗi loại. Lưu lượng hành khách và hàng hoá hiện tại.
Khả năng tăng trưởng nhu cầu vận chuyển trong tương lai. Đánh giá thực trạng khai thác của cảng hàng không cần phải rất chính xác, các số liệu điều tra được đưa ra quyết định rất lớn tới phương án thiết kế quy hoạch cảng hàng không có mang lại hiệu quả về kinh tế kỹ thuật tới mức độ nào. Điều này thể hiện năng lực của người “kiến trúc sư” trưởng của đồ án thiết kế. Hệ thống sân đường như đường băng, đường lăn, sân đỗ,.
là bộ phận cơ bản của sân bay, phục vụ cho việc cất hạ cánh của máy bay. Khi có sự tăng trưởng về vận chuyển hành khách và hàng hoá thì đi liền với nó là sự tăng trưởng về các loại máy bay hoạt động trên sân bay cả về số lượng và sự xuất hiện của các loại máy bay có tải trọng lớn hơn.