mở đầu thời kỳ quy hoạch phát triển lâm - nông nghiệp. Tai Châu Âu, vào thập kỷ 30 - 40 quy hoạch ngành giữ vai trò lấp chỗ trống của quy hoạch vùng được xây dựng. Những năm 60 nhiều chuyên khảo đề cập đến "Môi trường con người " trong đánh gid khả năng thích hợp của đất cho quy hoạch nông nghiệp và lâm nghiệp ra đời cùng với các chuyên khảo. thảo luận về hướng dẫn điều tra đất đánh giá khả năng của đất.
Từ năm 1967 Hội đồng nông nghiệp Châu Âu đã phối hợp với tổ chức FAO tổ chức hội nghị về phát triển nông thôn và quy hoạch sử dụng đất. Các hội nghị đều khẳng định rằng quy hoạch các ngành sản xuất như nông nghiệp, lâm nghiệp, chăn nuôi. phải dựa trên quy hoạch đất đai. Năm 1971 và 1975 các chuyên gia tư vấn họp tại ROME (Italia) và GENEVE (Thuy sỹ) để thảo luận về phương pháp luận quy hoạch nông thôn.
Phương pháp quy hoạch lâm nông nghiệp của địa phương có thể được khái quát bằng 2 cách tiếp cận: Tiếp cận từ trên xuống (Top Downapproach) và tiếp cận từ dưới lên (Bottom — Up approach ). Phương pháp tiếp cận nông thôn trước đây là phương pháp tiếp cận từ trên xuống phương pháp này không phát huy được tiém năng nông trại và cộng đồng nông thôn. Thông qua nghiên cứu và thực tiễn đã nêu lên phương pháp tiếp cận mới đó là phương pháp tiếp cận có sự tham gia của người dân (PRA) và cũng từ đây mà thuật ngữ "Quy hoạch trên cơ sở cộng đồng" bắt đầu xuất hiện. Năm 1985 tại hội nghị RRA ở đại học KHON KEAN (Thái Lan) cụm từ ” Sự tham gia/người tham gia) tiếp tục được sử dụng RRA cũng tham gia là giai đoạn chuyển đổi đâu tiên sang RRA.
Giai đoạn 1990 - 1991 là giai đoạn bùng nổ PRA tại ấn Độ vào các chương trình dự án phát triển nông thôn và phát triển lâm nghiệp xã hội ở các nước Châu Âu, Châu Phi. Năm 1994 đã có hai cuộc hội thảo quốc tế về PRA tại Ấn Độ cho đến nay đã có hơn 30 nước đã và đang áp dụng PRA vào phát triển các lĩnh vực quản lý, xoá đói giảm nghèo, y tế và an toàn lương thực. Trong chương trình hội thảo quốc tế tại Việt Nam (1998) tài liệu hội thảo về quy hoạch sử dụng đất cấp xã của FAO đã được đề cập một cách chỉ tiết khái niệm về sự tham gia của người dân và để xuất các chiến lược quy hoạch phát triển nông thôn. Quy hoạch phát triển nông thôn có sự tham gia của người dân được đề cập khá đầy đủ và toàn diện trong hội thảo VFC - TV DRESDEN (1998) về quy hoạch rừng nhận xét về phát triển nông thôn, quy hoạch sử dụng đất và phân cấp hạng đất.
Ở Việt Nam Đảng và Nhà Nước ta đã đưa ra nhiều văn bản hiến pháp, Nghị định, Thông tư đề cập Quy hoạch sử dụng đất cấp xã. Đặc biệt là Quy hoạch phát triển lâm - nông nghiệp. Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 nêu "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ Đất đai theo quy hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả. Nhà nước giao cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn đỉnh lâu dài" (Điều 18) “Trong những năm 90 Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ra đời (1991), Luật Dat đai sửa đổi (1993) và đặc biệt là các nghị định số 02 (1994) , nghị định số 04 (1995) nghị định số 64 năm (1993).
Những năm gần đây, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004, Luật Đất dai 2003 cùng các nghị định số 164 (2004), quyết số 06 (2004), chỉ thị số 20 (2004) ra đời là cơ sở tiền đề cho quy hoạch cấp xã. Các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho rằng quan điểm quy hoạch lâm nông nghiệp cấp địa phương nên theo các hướng sau: ~ Tiến hành nghiên cứu và thực thi khả năng kết hợp quy hoạch lâm nông, nghiệp dựa vào chức năng sử dụng đất và đánh giá tiêm năng sử dụng đất. - RA soát và xem xét lại hệ thống chính sách nhằm hướng tới đa mục đích sử dụng đất đai bằng việc đa dạng hoá các hoạt động sản xuất trong mỗi bản quy hoạch của cộng đồng. - Gắn hai quy trình quy hoạch đất đai với giao đất và coi là 2 bộ phận có quan hệ chặt chẽ để làm cơ sở cho quy hoạch sản xuất lâm nông nghiệp mỗi địa phương, mỗi cộng đồng.
- Nghiên cứu và thử nghiệm các phương pháp cùng tham gia quá trình quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp xác định và phân tích rõ các chủ thể thông qua quy hoạch lâm nông nghiệp cấp xã. Vào thập kỷ 90 các vấn để về quy hoạch cấp vĩ mô được nhiều tác giả đề cập và nghiên cứu. Các nghiên cứu của REICHENBERG (1992), các nhà nghiên cứu trong nước đều cho rằng Việt Nam chưa có quy hoạch sử dụng đất. Năm 1990 tổng cục quản lý ruộng đất ban hành hướng dẫn thực hiện quy hoạch sử dụng đất vi mô theo thông tư số 106/ĐKTĐ.
Nhiều tỉnh thực hiện quy hoạch theo hướng dẫn này nhưng khi triển khai gặp khó khăn vì phương pháp chưa thống nhất, ví dụ như Tuyên Quang không quá 10 xã trên 200 xã thực hiện. Sự tham gia của người dân trong quá trình quy hoạch là một khái niệm mới. Vũ Văn Mễ và DESLOGES năm 1996 cho rằng "Điểm quan trọng là thu hút người dân tham gia vào tất cả các giai đoạn trong quá trình quy hoạch sử dụng đất và giao đất lâm nghiệp ngay từ khi bắt đâu. Sự tham gia này tất nhiên sẽ khác nhau về phạm vỉ về mức độ tuỳ theo nội dung hoạt động và giao đoạn tiến hành ” PRA lần đâu tiên dua vào Việt Nam (1991) trong khuôn khổ của chương trình hợp tác phát triển lâm nghiệp Việt Nam-Thuy Điển để phục vụ cho chương trình lâm nghiệp trang trại ở 5 tỉnh miền núi phía bắc là Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang và Phú Thọ.
Như vậy PRA đang được cổ vũ và phát triển mạnh mẽ ở Việt Nam chương trình phát triển nông thôn miền núi đang được sử dụng PRA. Hầu hết các dự án quốc tế, dự án của các tổ chức phi chính phi (NGOS) ở Việt Nam đang sử dụng PRA. Trung tâm đào tạo lâm nghiệp xã hội — Trường Đại học Lâm nghiệp đã cung cấp dịch vụ tư vấn đào tạo PRA cho nhiều dự án như : UNDP, FAO, NGOš. Phương pháp quy hoạch sử dụng đất cấp vĩ mô PRA được đề cập trong chương trình quy hoạch sử dụng đất lâm nghiệp vào giao đất lâm nghiệp có sự tham gia của người dân (Đoan Diễn, 1997) Bùi Quang Toản (1996) trong công trình nghiên cứu quy hoạch sử dụng đất nông thôn và ổn định ở vùng trung du miền núi nước ta đã phân tích mở rộng đất nông nghiệp vùng đồi núi trung du.
Theo Bùi Đình Toái và Nguyễn Văn Nam năm 1998, tỉnh Lào Cai đã xây dựng mô hình sử dụng PRA để tiến hành quy hoạch sử dụng đất, tỉnh Hà Giang đã xây dựng quy hoạch và lập kế hoạch sử dụng đất 3 cấp: xã, thôn và hộ gia đình. Đến năm 1998 trên toàn vùng dự án có 78 thôn bản được quy hoạch sử dụng đất theo phương pháp cùng tham gia. Hai năm, 1996 và 1997, trong quá trình triển khai dự án Quản lý nguồn nước hồ Yên Lập có sự tham gia của người dân tại Hoành Bồ - Quảng Ninh, tác giả thử nghiệm phương pháp lập kế hoạch có sự tham gia của người dân để quy hoạch lâm nông nghiệp cho 3 xã: Bằng Cả, Quảng La và Dân Chủ. Phương pháp PRA được sử dụng để quy hoạch nông nghiệp và xây dựng dự án cấp xã, thôn cho 5 lĩnh vực: Quy hoạch lâm nghiệp và cây ăn quả cho quản lý rừng phòng hộ, quy hoạch trồng trọt, quy hoạch chăn nuôi và đồng cỏ, kế hoạch phát triển thủy lợi và lập kế hoạch mạng lưới tín dụng thôn bản hỗ trợ cho dự án xã.
Sau 3 năm: thực hiện cho thấy bản quy hoạch phù hợp với tình hình hiện tại là cơ sở vs chắc cho lập kế hoạch tác nghiệp hàng nam. Từ những kết quả nghiên cứu của đề tài nghiên cứu sinh, năm 1999 và 2000 Nguyễn Bá Ngãi cùng với nhóm tư vấn của Dự án khu vực lâm nghiệp Việt Nam - ADB đã nghiên cứu và thử nghiệm phương pháp quy hoạch và xây dựng tiểu dự án cấp xã. Mục tiêu là đưa ra một phương pháp quy hoạch nông lâm nghiệp cấp xã có sự tham gia của người dân để xây dựng tiểu dự án nông lâm nghiệp cho 50 xã của 4 tỉnh: Thanh Hoá, Gia Lai, Phú Yên và Quảng Trị. Năm 2000 luận án tiến sĩ của Nguyễn Bá Ngãi: "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho quy hoạch phát triển lâm nông nghiệp cấp xã vùng trung tâm miền núi phía Bắc Việt Nam.
PHAN III MUC TIEU, NOI DUNG, PHUONG PHAP NGHIEN CUU 3. Mục tiêu phạm vi nghiên cứu và giới hạn dé tai 31. Mục tiêu nghiên cứu ~ Nhằm đánh giá được tiềm năng tài nguyên rừng và đất đai của xã. ~ Nhằm quy hoạch phát triển sản xuất nông lâm nghiệp bền vững cho xã.
~ Nhằm nâng cao được mức sống và thu nhập của người dân. Pham vi và giới hạn đề tài ~ Đề tài tiến hành Quy hoạch sử dụng đất lâm nông nghiệp cho xã Yên Bài đã ổn định về ranh giới và diện tích. - Chỉ quy hoạch sâu về sản xuất lâm nông nghiệp, còn đất phi nông nghiệp chỉ dừng ở phân bổ sử dụng đất. - Sản lượng cây trồng theo cách ước tính và kinh nghiệm của người dân địa phương.
- Dự đoán hiệu quả cho một số cây trồng chính ở địa phương. Nội dung nghiên cứu 3. Điều tra, phân tích điều kiện cơ bản của xã 3.1 Điều tra điều kiện sản xuất của xã 3. Điều tra hiện trạng quản lý sử dụng đất nông lâm nghiệp của xã 8 3.
Điều tra tình hình sử dụng lâm sản phân tích thị trường lâm sản và nông sản 3. Dự báo nhu cầu phát triển kinh tế, phát triển xã hội và môi trường của xã 3. Nhận xét chung và phân tích những thuận lợi, khó khăn của điều kiện cơ bản đối với phát tri sản xuất lâm nông nghiệp. Quy hoạch phát triển sản xuất lâm nông nghiệp cho xấ 3.
Xác định phương hướng, mục tiêu sử dụng đất lâm nông nghiệp 3. Quy hoạch phân bổ sử dụng đất lâm nông nghiệp 3. Quy hoạch các biện pháp sản xuất lâm nông nghiệp 3. Dự tính vốn đầu tư, ước tính hiệu quả kinh tế của kỳ quy hoạch 3.