Tổng quan nghiên cứu

Hàng năm, ngành công nghiệp dệt may toàn cầu phát thải hàng trăm triệu mét khối nước thải chứa phẩm nhuộm hữu cơ khó phân hủy sinh học, trong đó ước tính khoảng 10% đến 15% lượng phẩm màu thất thoát trực tiếp vào các nguồn nước tự nhiên. Titan đioxit (TiO2) là vật liệu quang xúc tác bán dẫn thu hút sự quan tâm lớn nhờ độ bền hóa học cao, không độc hại và chi phí hợp lý. Mặc dù vậy, rào cản lớn nhất của TiO2 tinh khiết là năng lượng vùng cấm rộng từ 3,0 eV đến 3,2 eV, khiến vật liệu chỉ kích hoạt dưới bức xạ tử ngoại chiếm chưa đầy 5% năng lượng quang phổ mặt trời, kèm theo tốc độ tái tổ hợp nhanh của cặp electron và lỗ trống quang sinh.

Để vượt qua giới hạn kỹ thuật này, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Hóa vô cơ tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên, hoàn thành vào tháng 10 năm 2023, đã nghiên cứu tổng hợp và đánh giá hoạt tính quang xúc tác của vật liệu nano TiO2 biến tính đồng thời bằng hai oxit bán dẫn loại p là Ag2O và NiO. Mục tiêu của đề tài là thu hẹp năng lượng vùng cấm, chuyển dịch bờ hấp thụ quang học sang vùng ánh sáng khả kiến và gia tăng hiệu suất phân hủy hợp chất hữu cơ độc hại.

Phạm vi thực nghiệm tập trung vào chất màu mẫu methylene blue và mẫu nước thải dệt chiếu cói thực tế tại thôn Đồng Bằng, xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện qua các chỉ số đo lường vượt trội: hạ thấp năng lượng vùng cấm xuống 2,55 eV và nâng cao hiệu suất quang phân hủy phẩm màu đạt 96,55% trong 240 phút dưới ánh sáng khả kiến khi có mặt tác nhân kích hoạt H2O2.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu dựa trên nền tảng lý thuyết quang xúc tác bán dẫn dị thể và mô hình dị liên kết p-n. Về nguyên lý, khi vật liệu bán dẫn hấp thụ photon mang năng lượng lớn hơn hoặc bằng năng lượng vùng cấm, các điện tử sẽ chuyển từ vùng hóa trị lên vùng dẫn, để lại các lỗ trống mang điện tích dương có thế oxy hóa đạt cộng 2,53 V. Lỗ trống này phản ứng trực tiếp với phân tử nước để tạo gốc tự do hydroxyl có khả năng oxy hóa cực mạnh, bẻ gãy các liên kết phức tạp của phân tử phẩm màu.

Mô hình tiếp xúc dị thể p-n được thiết lập giữa chất bán dẫn loại n giàu điện tử là TiO2 với hai chất bán dẫn loại p giàu lỗ trống là NiO và Ag2O. Sự chênh lệch mức năng lượng giữa các pha hình thành điện trường nội tại ở mặt phân cách, điều hướng electron di chuyển sang vùng dẫn của TiO2 và lỗ trống dồn về vùng hóa trị của Ag2O cùng NiO, giúp triệt tiêu quá trình tái tổ hợp điện tử. Bốn khái niệm học thuật cốt lõi được sử dụng xuyên suốt gồm: năng lượng vùng cấm quang học, hiện tượng dịch chuyển đỏ bước sóng, phản ứng oxy hóa nâng cao và quá trình khoáng hóa hợp chất methylene blue có khối lượng phân tử 319,85 g/mol.

Phương pháp nghiên cứu

Về thiết kế thực nghiệm và cỡ mẫu, tác giả xây dựng hệ thống 8 mẫu khảo sát gồm mẫu trắng TiO2 đối chứng nung ở 400 độ C, 2 mẫu biến tính đơn oxit chứa 1% khối lượng NiO (1NT) và 1% Ag2O (1AT), cùng 5 mẫu đồng biến tính với dải nồng độ oxit biến thiên gồm 0,5%, 1,0%, 2,0%, 3,0% và 5,0% (ký hiệu từ 0,5NAT đến 5NAT). Phương pháp chọn mẫu theo nồng độ tăng dần được áp dụng nhằm xác định chính xác điểm bão hòa pha tạp, hạn chế tối đa nguy cơ hình thành các tâm tái tổ hợp điện tích khi nồng độ oxit vượt ngưỡng.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập liên tục trong 12 tháng tại các phòng thí nghiệm chuyên ngành thuộc Đại học Thái Nguyên và Viện Khoa học Vật liệu. Các phương pháp phân tích được lựa chọn dựa trên cơ sở khoa học chặt chẽ:

  • Nhiễu xạ tia X (XRD) trên máy D2 Advance với tia CuKα bước sóng 1,5406 Angstrom, công suất 40 kV và cường độ 40 mA, nhằm xác định cấu trúc pha tinh thể anatase mà không làm hư hại mẫu.
  • Phổ tán sắc năng lượng tia X (EDX) trên máy Horiba 7593-H kiểm chứng định tính thành phần nguyên tố Ti, O, Ag và Ni trên bề mặt.
  • Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) dòng JEOL-JEM-1010 xác định hình thái và kích thước hạt nano trung bình khoảng 50 nm.
  • Phổ phản xạ khuếch tán UV-Vis (DRS) trên máy Cary 5000 đo độ chuyển dịch bờ hấp thụ và xác định năng lượng vùng cấm.
  • Phổ hấp thụ phân tử UV-Vis trên máy UV-1700 Shimadzu đo độ suy giảm nồng độ methylene blue ở bước sóng 662 nm theo phương trình đường chuẩn hồi quy tuyến tính có hệ số xác định R bình phương đạt 0,9991.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình khảo sát thực nghiệm đã mang lại bốn phát hiện khoa học quan trọng:

  • Thứ nhất, giản đồ nhiễu xạ tia X khẳng định các mẫu composite đều bảo toàn cấu trúc tinh thể anatase nguyên bản của TiO2 với 9 mặt mạng đặc trưng từ góc 25,27 độ đến 75,01 độ. Ảnh chụp TEM xác nhận các hạt oxit phân bố đồng đều với kích thước ổn định khoảng 50 nm.
  • Thứ hai, phổ DRS chứng minh mẫu 1NAT có sự dịch chuyển đỏ mạnh nhất, mở rộng bờ hấp thụ từ 394 nm của TiO2 lên 432 nm và giảm năng lượng vùng cấm từ 3,2 eV xuống 2,55 eV. Mức suy giảm này vượt trội hơn so với mẫu đơn oxit 1AT (400 nm) và 1NT (421 nm).
  • Thứ ba, hiệu suất quang phân hủy methylene blue sau 120 phút chiếu sáng của mẫu 1NAT đạt 28,79%, cao hơn 56,6% so với mẫu 1AT (18,38%) và cao hơn 40,6% so với mẫu 1NT (20,47%). Khi tăng thời gian chiếu xạ lên 240 phút dưới đèn halogen 500 W, hiệu suất của 1NAT đạt 47,45%.
  • Thứ tư, khi bổ sung 1 mL H2O2 nồng độ 30%, hiệu suất phân hủy methylene blue của mẫu 1NAT sau 240 phút đạt tới 96,55%, cao hơn gấp 2 lần so với hệ không có H2O2 (47,45%) và cao hơn gấp 8,6 lần so với hệ chỉ chiếu sáng H2O2 (11,11%).

Thảo luận kết quả

Hoạt tính quang xúc tác tăng vọt của mẫu 1NAT được giải thích bằng cơ chế phân ly điện tích tại tiếp giáp dị thể ba cấu tử TiO2, NiO và Ag2O. Dưới tác động của ánh sáng khả kiến, các electron quang sinh lập tức di chuyển sang vùng dẫn của TiO2, còn lỗ trống tập trung tại vùng hóa trị của Ag2O và NiO. Sự định hướng này ngăn chặn hữu hiệu phản ứng tái kết hợp điện tích. Khi có mặt H2O2, phân tử này đóng vai trò chất bẫy electron, đồng thời phản ứng sinh thêm nhiều gốc tự do hydroxyl có tính oxy hóa mạnh.

So với các nghiên cứu biến tính TiO2 bằng oxit đơn lẻ, sự kết hợp đồng thời NiO và Ag2O với tỷ lệ 1% tạo ra hiệu ứng cộng hưởng tối ưu. Tuy nhiên, khi nâng hàm lượng oxit lên 2% đến 5%, hoạt tính lại giảm do oxit che khuất bề mặt hấp thụ photon và biến thành các trung tâm tái tổ hợp điện tích.

Dữ liệu thực nghiệm xử lý nước thải dệt chiếu cói tại Thái Bình được biểu diễn rất rõ ràng qua bảng theo dõi độ hấp thụ quang và đồ thị động học. Bảng dữ liệu ghi nhận tại bước sóng 616,0 đến 617,5 nm, độ hấp thụ quang giảm mạnh từ 2,5240 về 0,0337 sau 3 giờ, đạt hiệu suất phân hủy 98,66%; dải bước sóng 421,0 đến 430,5 nm đạt hiệu suất 54,29% sau 6 giờ; và dải bước sóng 363,0 đến 370,5 nm đạt 32,31% sau 10 giờ chiếu sáng. Đồ thị phổ UV-Vis minh chứng sự triệt tiêu tuần tự của các vòng thơm phẩm nhuộm phức tạp theo thời gian.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn xử lý ô nhiễm, bốn giải pháp cụ thể được kiến nghị triển khai:

  • Mở rộng quy mô tổng hợp vật liệu composite 1NAT từ phòng thí nghiệm sang pilot: Nhóm tác giả tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên cần tiến hành nâng quy mô mẻ chế tạo từ 1 gam lên 500 gam, duy trì chuẩn xác chế độ nung 400 độ C với tốc độ gia nhiệt 5 độ C mỗi phút; mục tiêu đảm bảo kích thước hạt nano ổn định ở mức 50 nm và giữ năng lượng vùng cấm 2,55 eV trong thời hạn 6 tháng.
  • Thiết kế module phản ứng quang xúc tác dòng chảy liên tục cho các làng nghề: Các doanh nghiệp công nghệ môi trường phối hợp cùng cơ sở sản xuất chiếu cói tại huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình triển khai lắp đặt hệ thống lọc kết hợp vật liệu 1NAT và dung dịch H2O2 30% theo tỷ lệ 1% thể tích; mục tiêu xử lý đạt hiệu suất 95% độ màu với công suất 50 mét khối nước thải mỗi ngày trong lộ trình 12 tháng.
  • Cố định hạt nano 1NAT lên các giá thể rắn trơ để tái sử dụng: Các viện nghiên cứu vật liệu môi trường cần thực hiện phủ màng mỏng xúc tác lên đế thủy tinh xốp, ống thạch anh hoặc sợi gốm nhằm loại bỏ công đoạn lọc màng 45 micromet phức tạp; mục tiêu đạt tỷ lệ thu hồi hạt trên 98% và duy trì hiệu suất quang hóa trên 85% sau 5 chu kỳ phản ứng trong thời gian 9 tháng.
  • Hoàn thiện tiêu chuẩn kỹ thuật kiểm soát ô nhiễm dệt may bằng công nghệ oxy hóa nâng cao: Sở Tài nguyên và Môi trường cùng ban quản lý các cụm công nghiệp địa phương cần ban hành hướng dẫn kỹ thuật ứng dụng xúc tác quang hóa sử dụng ánh sáng tự nhiên; mục tiêu giảm thiểu 80% chỉ số ô nhiễm COD và độ màu trước khi xả ra môi trường trong giai đoạn 2024 đến 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị học thuật và giải pháp ứng dụng thiết thực cho bốn nhóm đối tượng chính:

  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Hóa học, Khoa học vật liệu: Tài liệu cung cấp toàn bộ quy trình tổng hợp composite ba cấu tử TiO2, Ag2O và NiO, phương pháp phân tích giản đồ nhiễu xạ tia X trên 9 mặt mạng tinh thể anatase và kỹ thuật xử lý phổ DRS xác định năng lượng vùng cấm 2,55 eV nhằm phục vụ việc phát triển các đề tài nghiên cứu chuyên sâu.
  • Kỹ sư môi trường và chuyên viên vận hành hệ thống xử lý nước thải: Nắm vững quy trình vận hành công nghệ oxy hóa nâng cao kết hợp vật liệu 1NAT và H2O2 nồng độ 30% để thiết kế các trạm xử lý nước thải dệt may, loại bỏ triệt để các dải màu khó phân hủy với hiệu suất lên tới 98,66% trong thời gian 3 giờ.
  • Chủ doanh nghiệp dệt may và hợp tác xã sản xuất thủ công nghiệp: Tiếp cận phương pháp làm sạch nước thải chi phí thấp, tận dụng nguồn sáng khả kiến sẵn có để thay thế các loại hóa chất keo tụ tốn kém, giúp tiết kiệm 40% chi phí xử lý và đáp ứng các tiêu chuẩn xả thải hiện hành.
  • Giảng viên đại học và nghiên cứu viên: Khai thác toàn bộ số liệu thực nghiệm, phương trình đường chuẩn methylene blue có hệ số tương quan R bình phương 0,9991 làm tài liệu giảng dạy thực hành cho sinh viên trong các học phần hóa vô cơ, quang hóa học và công nghệ nano môi trường.

Câu hỏi thường gặp

  1. Vì sao việc đồng pha tạp Ag2O và NiO lại kích hoạt hoạt tính quang xúc tác của TiO2 dưới ánh sáng khả kiến? Cơ chế chính là sự hình thành cấu trúc dị liên kết p-n giữa TiO2 loại n và hai oxit bán dẫn loại p. Cấu trúc này thu hẹp năng lượng vùng cấm từ 3,2 eV xuống 2,55 eV ở mẫu 1NAT, đẩy bờ hấp thụ quang lên 432 nm. Điện trường tiếp xúc thúc đẩy phân tách điện tích, kéo dài tuổi thọ của các hạt mang điện.

  2. Nguyên nhân nào khiến mẫu 1NAT có hiệu suất quang xúc tác vượt trội so với mẫu 5NAT? Hàm lượng 1% khối lượng oxit biến tính là tỷ lệ tối ưu để hình thành các điểm tiếp giáp bán dẫn phân ly điện tích hiệu quả trên hạt 50 nm. Khi hàm lượng oxit tăng lên mức 5% ở mẫu 5NAT, các oxit dư thừa sẽ che chắn bề mặt tiếp nhận bức xạ của TiO2, đồng thời biến thành các tâm tái tổ hợp điện tích làm suy giảm hiệu suất phản ứng.

  3. Tác nhân H2O2 đóng vai trò gì trong việc gia tăng tốc độ quang phân hủy phẩm nhuộm? Chất oxy hóa H2O2 đóng vai trò là tác nhân bẫy điện tử quang sinh ở vùng dẫn, ức chế quá trình tái tổ hợp giữa electron và lỗ trống. Phản ứng giữa H2O2 và electron giải phóng thêm chuỗi gốc tự do hydroxyl có hoạt tính oxy hóa rất cao, giúp đẩy hiệu suất phân hủy methylene blue của vật liệu 1NAT từ 47,45% lên 96,55% sau 240 phút.

  4. Mạng tinh thể của vật liệu TiO2 có bị thay đổi cấu trúc sau khi biến tính với Ag2O và NiO không? Kết quả nhiễu xạ tia X khẳng định mạng tinh thể TiO2 vẫn duy trì cấu trúc pha anatase bền vững với các mặt mạng đặc trưng như mặt 101 ở góc 25,27 độ và mặt 200 ở 48,06 độ. Các oxit NiO và Ag2O phân bố trên bề mặt tiếp xúc mà không xâm nhập làm sai hỏng mạng tinh thể, chứng minh phương pháp tổng hợp composite đạt độ ổn định rất cao.

  5. Vật liệu 1NAT thể hiện hiệu quả như thế nào khi ứng dụng trên mẫu nước thải dệt nhuộm thực tế? Khi xử lý mẫu nước thải dệt chiếu cói thực tế tại Thái Bình pha loãng 20 lần có bổ sung 1 mL H2O2 30%, vật liệu 1NAT đã phân hủy 98,66% chất màu ở bước sóng 616,0 đến 617,5 nm sau 3 giờ chiếu sáng. Dải màu ở bước sóng 421,0 đến 430,5 nm cũng được phân giải 54,29% sau 6 giờ, khẳng định tính ứng dụng thực tiễn cao.

Kết luận

Công trình nghiên cứu luận văn thạc sĩ đã đúc kết năm đóng góp khoa học quan trọng:

  • Chế tạo thành công composite nano TiO2 biến tính đồng thời bằng NiO và Ag2O ở nhiệt độ nung 400 độ C, bảo tồn trọn vẹn pha tinh thể anatase với kích thước hạt trung bình khoảng 50 nm.
  • Xác định tỷ lệ tối ưu là mẫu 1NAT chứa 1% khối lượng oxit, thu hẹp năng lượng vùng cấm từ 3,2 eV xuống 2,55 eV và mở rộng bờ hấp thụ lên bước sóng 432 nm.
  • Nâng cao hiệu suất quang phân hủy methylene blue lên tới 96,55% dưới ánh sáng khả kiến sau 240 phút khi phối hợp với dung dịch H2O2 nồng độ 30%.
  • Khẳng định tính khả thi thực tế qua khả năng xử lý nước thải dệt chiếu cói tại Thái Bình với hiệu suất phân hủy đạt 98,66% ở bước sóng 616,0 đến 617,5 nm sau 3 giờ chiếu sáng.
  • Mở ra hướng đi mới trong việc ứng dụng vật liệu quang xúc tác dị thể thân thiện môi trường để xử lý nước thải công nghiệp và làng nghề truyền thống.

Đóng góp cốt lõi của tác giả Nguyễn Đắc Duẩn là làm chủ kỹ thuật tổng hợp dị liên kết bán dẫn hiệu năng cao, mở ra tiềm năng nội địa hóa vật liệu xử lý môi trường. Kế hoạch tiếp theo trong giai đoạn 2024 đến 2025 là cố định hạt nano 1NAT lên màng xốp và thử nghiệm hệ thống dòng chảy liên tục. Các tổ chức khoa học và doanh nghiệp dệt may hãy liên hệ với tác giả để tiếp cận toàn văn luận văn và phối hợp chuyển giao công nghệ xử lý nước thải tiên tiến này ngay hôm nay.