chương I, tác giả xây dựng quy chế VHCS thông qua các phương pháp, cách thức, quy trình, khảo sát, đánh giá và phân tích dữ liệu để ban hành quy chế VHCS. Chương 3: Tổ chức thực hiện Quy chế VHCS tại Thành ủy TDM. Trên cơ sở xây dựng và ban hành quy chế VHCS, tác giả trình bày và phân tích các giải pháp dé tô chức thực hiện quy chế VHCS cho cán bộ, công chức và người lao động thiết thực hiệu quả tại các cơ quan tham mưu của Thành ủy. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE XÂY DỰNG VA TO CHỨC THỰC HIỆN QUY CHE VAN HÓA CÔNG SỞ 1.
Lý luận chung về văn hóa công sở 1. Khai niệm Đề hiểu được khái niệm văn hóa công sở (VHCS) thì trước hết cần hiểu được nội hàm của khái niệm văn hóa và khái niệm công sở. Thứ nhất, vẻ khái niệm văn hóa. Qua tìm hiểu cho thay hiện có rất nhiều định nghĩa về khái niệm văn hóa.TSKH Trần Ngọc Thêm thì “vào năm 1952, hai nhà nhân học người Mỹ là A.
Kluckhohn đã viết một cuốn sách chuyên bàn về các định nghĩa văn hóa nhan dé: Văn hóa - tổng luận phê phán các quan niệm và định nghĩa (Culture: a critical review of concepts and definitions), trong đó đã dan ra va phân tích 164 định nghĩa về văn hoá. Trong lan xuất bản thứ hai của cuốn sách này, số định nghĩa văn hoá đã tăng lên đến trên 200. Còn hiện nay thì số lượng định nghĩa về văn hóa khó mà biết chính xác được: có người bảo là 400, có người nói là 500, lại có người quả quyét rang ching lén đến con số nghin. Thực trạng này cho thấy văn hóa là một van dé đa diện va rất phức tạp.
Trên cơ sở tìm hiểu các định nghĩa phổ biến về văn hóa, chúng tôi đồng ý với quan điểm của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng trên thực tế dù số lượng định nghĩa về văn hóa rất nhiều và có thé trong tương lai còn nhiều hơn nữa thi chang qua chúng cũng chỉ xoay quanh một số khuynh hướng cơ bản, hoặc là định nghĩa theo hướng miêu tả nhằm liệt kê các thành tố của văn hóa (ví dụ như định nghĩa văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh ton cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hop của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhăm thích ứng với nhu cau đời sông và doi hỏi cua sự sinh tổn”[9]), hoặc định 14 nghĩa nêu đặc trưng (vi dụ như định nghĩa văn hóa của Từ điển tiếng Việt: “Van hóa là tổng thé nói chung những giá trị vật chất và tinh than do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh than; tri thức, kiến thức khoa học; trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn mỉnh.1396]; hoặc định nghĩa văn hóa của Tổng Giám đốc UNESCO, ông Federico Mayor Zaragoza trong bài phát biểu tại lễ phát động Thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1988 - 1997) của UNESCO ở Paris năm 1998: “Văn hóa đã phản ánh cuộc sống đã diễn ra trong quá khứ, cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thé kỷ nó đã cau thành nên hệ thong các giá trị, truyén thống, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc tự khẳng định bản sắc riêng cua mình”[19, tr.26]; hoặc định nghĩa văn hóa của PGS.TS Vũ Thị Phụng: “* Jăn ” là tốt, đẹp. “Hóa” là tạo dựng, hướng tới, duy trì và chuyến biến.
Từ đó có thể hiểu “Văn hóa ” là tạo dựng, duy trì và phát triển những giá trị tốt đẹp”[11]). Trên cơ sở tìm hiểu một số định nghĩa văn hóa có thể rút ra một số kết luận sau: (i) Có rất nhiều định nghĩa về văn hóa, các định nghĩa này tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau và hầu hết chúng không thống nhất với nhau. Điều đó cho thấy văn hóa là một phạm trù có tính chất bao trùm và đa diện; (ii) Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng chúng ta vẫn có thé nhận diện được văn hóa thông qua sự đồng thuận chung về bản chất của văn hóa là tính người và tính xã hội, văn hóa là sự thé hiện trình độ phát triển của xã hội hướng đến những giá trị chân, thiện, mỹ cua con người. Trong luận văn này, chúng tôi hiểu khái niệm văn hóa theo định nghĩa của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm vì sự ngắn gọn nhưng hàm chứa nội hàm phong phú đối với khái niệm văn hóa.
Theo đó, “Van hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị (vật chất và tinh than, tĩnh và động, vật thé và phi vật thể.) do con người sáng tao ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác với môi trường tự nhiên và xã hội của mình”[26]. Như vậy, hai thành tố quan trọng nhất câu thành văn hóa là các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần. Những giá trị này do con người tạo ra chứ không phải có sẵn trong tự nhiên và nó hướng con người đến các giá trị chân, thiện, mỹ. 15 Thứ hai, về khái niệm công sở.
Qua tìm hiểu cho thấy công sở là một khái niệm được sử dụng khá phổ biến. Tuy vậy, nội hàm của khái niệm này chưa được xác định một cách rõ ràng và thống nhất. Trên cơ sở tìm hiểu các định nghĩa phổ biến về công sở cho thấy có ba khuynh hướng định nghĩa chính sau đây đối với khái niệm nêu trên: (1) Cho rằng công sở là khái niệm dùng dé chỉ trụ sở của cơ quan, xí nghiệp nhà nước [30, tr.264], công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cụ thể, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc [16, D.70], hoặc cho rằng công sở là khái niệm tương đương với khái niệm văn phòng, hoặc cho rang công sở là nơi làm việc chung, chủ yêu dành cho đội ngũ nhân sự có chất xám [11]; (ii) Cho rằng công sở thực chat là một loại tổ chức và do đó có đặc trưng của một tô chức [10, tr.08], thường là tô chức có tư cách pháp nhân, cụ thể hơn là các pháp nhân công pháp (cơ quan nha nước); (iii) Cho rằng công sở là khái nệm đề chỉ bộ phận hợp thành của bộ máy nhà nước được thành lập theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện chức năng quản lý nhà nước hoặc dịch vụ công, đồng thời công sở cũng là khái niệm chỉ trụ sở làm việc của cơ quan, tổ chức của nha nước [3, tr. Đây là sự tong hợp của khuynh hướng (i) và khuynh hướng (11).
Trên cơ sở kế thừa các định nghĩa đã có đối với khái niệm công sở, đồng thời phù hợp với đối tượng nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cho rằng có thé hiểu công sở là khái niệm có tính chất tương đối, dùng dé chi chung về: (i) Các cơ quan trong khu vực công, có hoặc không có tư cách pháp nhân, nói cách khác chúng là bộ phận cầu tạo nên hệ thống chính trị ở Việt Nam (Đảng cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và các tô chức chính trị - xã hội theo quy định tại Điều 9 Hiến pháp 2013); Gi) Trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội, đơn vi sự nghiệp công lập. Trong luận văn này, tùy vào ngữ cảnh, khái niệm công sở có thể được hiểu theo nghĩa (i), cũng có thé được hiểu theo nghĩa (ii) hoặc tổng hợp cả hai cách hiéu như đã nêu trên. 16 Thứ ba, đối với khái niệm VHCS. VHCS là thuật ngữ chuyên ngành và xuất hiện trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật.
Tuy vậy, hiện vẫn chưa có định nghĩa chính thức hoặc mang tính thống nhất cao đối với thuật ngữ này.TS Trịnh Đức Thảo cho rằng: “Van hóa công sở tại các cơ quan hành chính nhà nước là tổng hợp các quy phạm pháp luật về trang phục, giao tiếp và ứng xử của CB,CC, viên chức khi thi hành nhiệm vụ và bài trí văn hóa công sở tại cơ quan hành chính nhà nước do cơ quan nhà nước có thẩm quyên ban hành nhằm bảo đảm tính trang nghiêm và hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời, xây dựng phong cách ứng xử chuẩn mực của CB,CC, viên chức trong hoạt động công vụ hướng tới mục tiêu xây dựng đội ngũ CB,CC, viên chức có phẩm chất đạo đức tốt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao” [24, tr. Trong khi đó PGS.TS Vũ Thi Phung có định nghĩa tương đối khác biệt với định nghĩa nêu trên khi cho rang: “VHCS là tổng hoà những giá trị hữu hình và vô hình, bao gom trình độ nhận thức, phương pháp tổ chức, quản li, môi trường - cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây đựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động dung pháp luật và hiệu qua cao” [21]. Như vậy, trong định nghĩa của mình, PGS.TS Vũ Thị Phụng đã gián tiếp khăng định VHCS không chỉ bó hẹp trong phạm vi hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, hay thậm chí rộng hơn là các cơ quan nhà nước, nhưng thay vào đó VHCS tồn tại trong các hoạt động của các chủ thể thực thi công vụ, mà tiêu biểu là CB,CC. Như vậy, trên cơ sở những cách hiểu nêu trên về VHCS, trong luận văn này chúng tôi hiểu: VHCS là thuật ngữ được sử dụng dé chỉ toàn bộ các giá trị vật chất và tỉnh thân hình thành, tôn tại và phát triển trong quá trình hình thành và phát triển của các cơ quan trong hệ thong chính trị Việt Nam.
Qua đó hướng các thành viên trong mỗi cơ quan, cũng như các chủ thể khác trong xã hội đến các giá trị chân, thiện, mỹ, góp phan tạo lập, duy trì và củng cô một xã hội hài hoà về lợi ích và day tính nhân văn trong thái độ, hành vi giữa những chủ thể đại diện cho quyén lực công với các chủ thể khác trong xã hội.