Chương 1. Cơ sở lý luận và pháp lý về văn hóa công sở Trong chương này, tác giả đã khái quát một số vấn đề lý luận chung về văn hóa công sở bao gồm việc làm rõ các khái niệm văn hóa, công sở, văn hóa công sở; phân tích các đặc trưng và vai trò; các biểu hiện trực quan, phi trực quan; trách nhiệm xây dựng và tô chức thực hiện văn hoá công sở đồng thời làm rõ các cơ sở pháp lý về văn hóa công sở. Thực trạng văn hóa công sở tại Phân viện khu vực Miền Trung - Học viện Hành chính Quốc gia Ở chương nay, tác giả trình bày về sự hình thành và phát triển của Phân viện Miền Trung. Khái quát quá trình tổ chức thực hiện văn hóa công sở và làm rõ nhận thức, quan điểm của lãnh đạo, viên chức, người lao động của Phân viện Miền Trung về văn hóa công sở.
Đồng thời, đánh giá cụ thê thực trạng dựa trên các biểu hiện trực quan, phi trực quan của văn hóa công sở. Trên cơ cở đó đưa ra những nhận xét về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân về tình hình văn hóa công sở tại Phân viện khu vực Miền Trung - Học viện Hành chính Quốc gia. Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm xây dựng, phát triển văn hóa công sở tại Phân viện khu vực Miền Trung — Học viện Hành chính Quốc gia. Từ những nghiên cứu, đánh giá trước đó, tác giả đưa ra phương hướng và đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng, phát triển văn hóa công sở tại Phân viện khu vực Mién Trung — Học viện Hành chính Quôc gia.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LY VE VĂN HÓA CÔNG SO 1. Cơ sở lý luận về văn hoá công sở 1. Các khái niém cơ bản 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm có từ lâu đời, mang nội hàm rộng, do con người sáng tạo ra trong suốt quá trình hình thành và phát triển.
Trải qua từng giai đoạn khác nhau mà văn hóa cũng được hiểu và tiếp cận theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng thiết nghĩ trong bat kỳ giai đoạn nào thì văn hóa luôn khang định được vai trò đặc biệt quan trọng đối với xã hội. Văn hóa cùng với sự đa dạng của mình đã hòa nhập vào mọi mặt hoạt động của con người. Những hoạt động có ý thức của con người chính là cơ sở, điều kiện vật chat quan trọng dé nảy sinh văn hóa. Dé bàn về văn hóa, người Pháp, người Anh có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga có từ kultura.
Những chữ này lại có chung gốc La tinh là chữ cultus animi là “trồng trọt tinh thần”. Vay chữ cultus là văn hóa với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thê hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên và họ có những phẩm chat tốt đẹp.18] Theo định nghĩa UNESCO đưa ra vào năm 1994, văn hóa được hiểu với hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng “Van hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng điện mạo về tinh than, vật chất, tri thức và tình cảm. khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miễn, quốc gia, xã hội.
Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lỗi sống, những quyên cơ bản của con người, những hệ thông giá trị, những truyễn thong, tin ngưỡng”. Còn hiéu theo nghĩa hẹp thì “Van hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chỉ phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng dong, khiến cộng đông đó có đặc thù riêng”. [24,tr344] Trong mục đọc sách ở phan cuối tập Nhật ký trong tù (năm 1942-1943) chủ tịch Hồ Chi Minh đã quan niệm về văn hóa như sau: “Vi lẽ sinh ton cũng như mục dich của cuộc song, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử dụng”. 12 Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”.
[20] Với cách hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người phát minh và sáng tạo ra. Văn hóa theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ là bách khoa toàn thư về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người. Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học (2003), đã đưa ra một loạt quan điểm về văn hóa như sau: (1) Văn hóa là tổng thé nói chung những giá trị vật chất và tinh than do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; (2) Những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh than; (3) Tri thức kiến thức khoa học;(4) Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; (5) Nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cỗ xưa được xác định trên cơ sở một tong thé những di vat tìm thay được có những đặc điểm giống nhau.[27] Theo quan điểm của PGS.TSKH Trần Ngọc Thêm, “văn hóa” có thể được dùng theo nghĩa thông dụng đề chỉ học thức (trình độ văn hóa), lối sống (nếp sống văn hóa). Theo nghĩa chuyên biệt dé chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn (văn hóa Đông Sơn),.
Trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ các sản phẩm vật chất như đồ ăn, đồ mặc, vật dụng cho đến những giá trị tinh than như tri thức, kinh nghiệm, tín ngưỡng, phong tục, lối sống, tính cách. Chính với cách hiểu rộng này, văn hóa mới là đối tượng đích thực của văn hóa học. Trên cơ sở phân tích các cách tiếp cận văn hóa phô biến như hiện nay (coi văn hóa như tập hợp, như giá tri, như hoạt động, như ký hiệu, như thuộc tính nhân cách, như thuộc tính xã hdi,. Ông đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa là một hệ thong hữu cơ các giá trị vật chất và tinh than do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội cua mình”.4] Có thê thấy rằng, các định nghĩa về văn hóa hiện nay rất phong phú.
Mỗi định nghĩa đề cập đến những dạng nhận thức hoặc những lĩnh vực khác nhau về văn hóa. Từ các quan điểm tiêu biểu nêu trên, tác giả rút ra định nghĩa cơ bản về văn hóa như sau: “Van hóa là một hệ thống các giá trị vật chất và tỉnh thân do con người sáng tạo ra. Văn hoá được tích lity trong hoạt động thực tiễn qua quá 13 trình tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội, thể hiện trình độ phát triển xã hội trong từng thời kỳ lịch sử nhất định. Văn hóa là sản phẩm của con người, được giữ gìn, sử dụng dé phục vụ đời sống con người dong thời được lưu truyền từ thé hệ này qua thé hệ khác ”.
Khái niệm công sở Qua tìm hiểu cho thấy, “công sở” là một thuật ngữ được sử dụng phô biến và được diễn đạt với nhiều định nghĩa khác nhau. Trong công việc hay trong cuộc sống thường nhật, chúng ta vẫn sử dụng thuật ngữ này một cách thường xuyên, trong nhiều ngữ cảnh và tương đối chính xác. Theo nghĩa cô điển, “công sở” là một tổ chức đặt dưới sự quan lý trực tiếp của Nha nước dé tiến hành những công việc chuyên ngành của nhà nước, ví du như các cơ quan nhà nước, các viện nghiên cứu, bệnh viện,. Đây là một loại công sở nói chung có tư cách pháp nhân, được điều chỉnh bằng công pháp và phụ trách quản lý một loại công việc hay một loại hoạt động dịch vụ công có tính chuyên ngành.25] Trong cuốn Giáo trình Điêu hành công sở hành chính nhà nước (2010) của Học viện Hành chính Quốc gia, đã định nghĩa công sở là một tổ chức cấu thành hệ thống hành chính nhà nước; có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tô chức bộ máy theo luật định; có vi trí xác định, có đội ngũ cán bộ, công chức được tuyển dụng theo quy chế công chức hoặc theo thê thức hợp đồng: và các nguồn lực tài chính, vật chất để thực thi công vụ, phục vụ lợi ích chung của xã hdi.[35,tr9] Trong Dai từ điển Tiếng Việt do NXB Văn hóa thông tin, xuất bản năm 1998, công sở được định nghĩa như sau: “Công sở là tru sở, nơi làm việc của các cơ quan nhà nước nói chung ”.
[42] Tại điều 70 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2019) xác định: “Công sở là trụ sở làm việc của cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, t6 chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp công lập, có tên gọi riêng, có địa chỉ cu thé, bao gồm công trình xây dựng, các tài sản khác thuộc khuôn viên trụ sở làm việc”. [4] Hoặc cho rằng công sở là nơi làm việc chung, chủ yếu dành cho đội ngũ nhân sự có chất xám.[32] Với những định nghĩa trên, công sở được hiêu với quan niệm là tru sở làm việc của cơ quan, don vi. 14 Xét về nội dung công việc, hoạt động công sở nhằm thỏa mãn các lợi ích chung của cộng đồng, do vậy cần được sự bảo vệ và kiểm tra của nhà nước và chỉ có Nhà nước mới có thể thỏa mãn được nhu cầu này.26] Xét về hình thức tổ chức, công sở là một tập hợp có cơ cấu tô chức, có phương tiện vat chất và con người được nhà nước bảo trợ dé thực hiện nhiệm vụ của mình. Hình thức tô chức của công sở do nhà nước quy định và lệ thuộc vào phương thức điều hành của bộ máy nhà nước.
Hiện nay ở nhà nước ta có các loại công sở như công sở sự nghiệp, công sở hành chính.26] Xét trên ý nghĩa chung nhất về hình thức, khái niệm công sở đồng nghĩa với cơ quan trong hệ thống tô chức bộ máy nhà nước. Từ đó, có thể nói công sở là trụ sở làm việc của tổ chức, cơ quan nha nước, do Nhà nước lập ra. Công sở được phép dùng quyền lực công dé giải quyết công vu. Từ những quan điểm nêu trên, có thé hiểu công sở là nơi dé tổ chức các cơ chế kiểm soát công việc hành chính, quản lý các mặt của đời sống xã hội.
Công Sở là nơi soạn thao và xử lý các văn bản dé phục vụ cho công việc chung, bảo dam các thông tin cho hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước.