CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Quản trị thu nhập 1. Khái niệm quản trị thu nhập theo các nghiên cứu trước đây Nghiên cứu của Schipper (1989) cho rằng quản trị thu nhập là hành động tác động đến quá trình thiết lập báo cáo tài chính nhằm đặt được các mục tiêu mang tính lợi ích; Nghiên cứu của Carlos Noronha và Yun Zeng (2008) định nghĩa quản trị thu nhập là một chuỗi các can thiệp có mục đích đến quá trình thiết lập báo cáo tài chính, gồm những hành vi hợp pháp và bất hợp pháp. Qua đó sẽ tạo nên những đánh giá không chính xác từ các bên với hoạt động của công ty; Nghiên cứu của Scott (1997) cho rằng việc quản trị thu nhập là hành động các nhà quản lý sử dụng các chuẩn mực kế toán, để tối ưu hóa lợi ích bản thân các nhà quản lý hoặc của doanh nghiệp. Định nghĩa: Quản trị thu nhập là hành động của nhà quản lý tác động đến quá trình lập báo cáo tài chính.
Hành động này có thể hợp pháp hoặc bất hợp pháp nhằm mang lại lợi ích cho các nhân hoặc Doanh nghiệp, trong đó: Các hành động hợp pháp: Các nhà quản trị vận dụng các chuẩn mực kế toán để tạm thời có những hạch toán giúp ban quản lý Công ty đạt được những mục tiêu xử lý số liệu tài chính trong một thời gian nhất định. Các chính sách kế toán thường được vận dụng trong quản trị thu nhập: 123doc 7 (1) Chính sách kế toán đối với hàng tồn kho: lựa chọn phương pháp tính giá thành sản phẩm và phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang có thể làm thay đổi giá thành sản phẩm, từ đó có thể điều chỉnh giá vốn hàng bán; lựa chọn phương pháp tính giá hàng xuất kho có thể làm thay đổi giá vốn hàng bán trong kỳ; thay đổi giá bán và chi phí ước tính để thay đổi mức lập dự phòng, điều chỉnh chi phí trong kỳ. Ví dụ: Trong giai đoạn giá nguyên liệu vật liệu có xu hướng tăng cao, với mong muốn đạt được lợi nhuận cao trong ngắn hạn, nhà quản lý sẽ lựa chọn phương pháp tính giá hàng tồn kho nhập trước xuất trước (FIFO). (2) Chính sách lập dự phòng phải thu khó đòi: có thể điều chỉnh chi phí và lợi nhuận thông qua việc dự kiến mức độ tổn thất đối với những khoản nợ chưa đến hạn thanh toán, điều chỉnh mức lập dự phòng phải thu khó đòi; (3) Chính sách lập dự phòng giảm giá đầu tư tài chính: có thể chỉ trích lập dự phòng ít hơn mức cần thiết hoặc tăng mức trích lập dự phòng hơn mức cần thiết để điều chỉnh chi phí và lợi nhuận; (4) Chính sách về kế toán tài sản cố định: dựa vào tiêu chuẩn ghi nhận tài sản để điều chỉnh việc ghi nhận là tài sản hay một khoản chi phí; lựa chọn phương pháp khấu hao hoặc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của tài sản để điều chỉnh chi phí; Lựa chọn quy mô, tính chất sửa chữa và số kỳ trích trước hoặc phân bổ để điều chỉnh chi phí; lựa chọn thời điểm mua hay thanh lý tài sản để điều chỉnh doanh thu, chi phí.
Ví dụ như: Nhà quản lý mong muốn lợi nhuận cao trong những năm đầu của giai đoạn đầu tư (thời gian còn ưu đãi về thuế), các nhà quản 123doc 8 lý có thể lựa chọn phương pháp khấu hao chậm (tương ứng với thời gian khấu hao tối đa của tài sản đầu tư). Ngược lại, với phương pháp khấu hao nhanh sẽ làm giảm lợi nhuận của doanh nghiệp trong những năm đầu của giai đoạn đầu tư nhưng doanh nghiệp sẽ giảm được số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp. (5) Chính sách về phân bổ chi phí trả trước: lựa chọn số kỳ phân bổ sẽ chủ động điều chỉnh chi phí của từng kỳ; (6) Cân đối tài chính: Khi phát hành trái phiếu chuyển đổi để huy động vốn đầu tư, Nhà quản lý có thể đàm phán với các trái chủ việc trả nợ gốc và việc thực hiện quyền chuyển đổi cổ phiếu sẽ được diễn ra đồng thời vào cuối kỳ, khi đó nhà quản lý có thể hạch toán khoản trái phiếu này vào vốn chủ sở hữu mà không phải hạch toán vào nợ phải trả. Điều này sẽ giúp đòn cân nợ của doanh nghiệp được cải thiện đáng kể, hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư.
Những hành động lựa chọn này từ nhà quản lý sẽ có tác động nhất định đến báo cáo tài chính, qua đó có thể ảnh hưởng đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận và cân đối tài chính của doanh nghiệp. Các hành động quản trị thu nhập bất hợp pháp: Các hành động thao túng số liệu tài chính nhằm đạt được mục tiêu của nhà quản trị nhưng không tuân thủ quy định của pháp luật kế toán và chuẩn mực kế toán quốc tế. Theo Shen và cộng sự (2015), chúng ta có thể phân loại các công ty thao túng bất hợp pháp báo cáo tài chính thành ba nhóm dựa trên động cơ và giao dịch của các hoạt động lừa đảo của họ: 123doc 9 (1) Thao túng giá cổ phiếu (Manipulating Stock Prices-MSP): Nhóm các công ty này bị cáo buộc tiết lộ thông tin sai lệch hoặc phóng đại lợi nhuận bằng cách tiết lộ thông tin nội bộ để thao túng giá cổ phiếu. Các nhà quản lý đưa ra một bức tranh màu hồng về thu nhập của công ty để giúp tăng giá cổ phiếu công ty trên thị trường vốn.
Từ đó góp phần tạo điều kiện cho việc gia tăng quy mô huy động vốn từ các nguồn tài chính bên ngoài (phát hành mới với giá cao hoặc phát hành trái phiếu với lãi suất thấp), việc gia tăng quy mô vốn quá mức tạo điều kiện cho các nhà quản lý thực hiện các dự án đầu tư có NPV âm, các dự án đầu tư dưới chuẩn. (2) Các cổ đông kiểm soát (The Controlling Shareholder-TCS): Các cổ đông kiểm soát hút tài nguyên từ một công ty để tăng sự giàu có của họ trong khi công ty bị giảm thu nhập thông qua việc hướng các khoản đầu tư của Công ty đến các Công ty/khoản đầu tư riêng do chính họ sở hữu. Điều này vừa giúp các cổ đông kiểm soát chuyển lãi từ các công ty niêm yết sang kho bạc của riêng họ, đồng thời có thể giúp dễ dàng kiểm soát được số liệu tài chính và từ đó thúc đẩy đầu tư quá mức/đầu tư dưới chuẩn ? Ví dụ điển hình là một vài các Công ty kinh doanh trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản tại Khu vực Tây Nam Bộ, lỗ sẽ được dịch chuyển về 1 công ty và được cho phá sản công ty đó, để lại khoản nợ lớn cho ngân hàng và các cổ đông nhỏ lẻ. Lý do phải quản trị thu nhập: Theo phân tích nêu trên về các loại EM hợp pháp và bất hợp pháp, chúng ta thấy được việc điều chỉnh EM của các nhà quản lý là để thực hiện mục tiêu vì lợi ích của cá nhân hoặc của của chính doanh nghiệp.
Theo các nghiên cứu của Healy và Wahlen (1999), McNichols (2000, 2002), and Dechow and Skinner (2000), Skinner và Sloan (2002), Richardson và cộng sự (2001), Burgstahler (1997), có các lý do chính mà nhà quản lý bắt buộc phải quản trị thu nhập, cụ thể như sau: Một là, Nhà quản lý sẽ đạt được các khoản lương và thưởng như kỳ vọng: Việc thực hiện thành công kế hoạch kinh doanh đã được Đại hội đồng cổ đông giao sẽ giúp các khoản thu nhập của các nhà quản lý tăng lên, vì vậy, mặc dù thực tế có thể việc kinh doanh không hiệu quả, nhưng các nhà quản lý bắt buộc phải điều chỉnh/thao túng báo cáo tài chính (EM) để đạt được thu nhập như cá nhân đã kỳ vọng. Hai là, Nhà quản lý sẽ đạt được các tiêu chuẩn để theo các hợp đồng vay: Các hợp đồng vay vốn/cấp tín dụng với các chủ nợ thường có những điều kiện kiện ràng buộc về hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khả năng tạo ra lợi nhuận của dự án đầu tư hoặc cũng có những tiêu chuẩn bắt buộc về 123doc 11 cân đối tài chính.Điều này vô hình chung đẩy các nhà quản lý đến với việc điều chỉnh/thao túng báo cáo tài chính (EM) nhằm đảm bảo tính ổn định của nguồn vốn/dòng tiền của doanh nghiệp. Ba là, Nhà quản lý sẽ Đạt được các tiêu chuẩn từ cơ quan quản lý: Các công ty hoạt động trong các ngành nghề kinh doanh có điều kiện hoặc đang niêm yết tại các sàn chứng khoán đều phải chịu những ràng buộc nhất định từ cơ quan quản lý, trong đó có các ràng buộc về mặc tài chính như nguồn vốn, hiệu quả kinh doanh,.Vì vậy, để đảm bảo hoạt động kinh doanh được diễn ra liên tục, không dẫn đến các sự cố về pháp lý, các nhà quản lý phải có những điều chỉnh/thao túng về số liệu tài chính doanh nghiệp. Bốn là, Nhà quản lý sẽ có tác động đến giá cổ phiếu: Việc sụt giảm trong giá cổ phiếu liên quan trực tiếp đến tài sản của các cổ đông, nên các cổ đông thường có áp lực nhất định đến các nhà quản lý về việc phải làm gia tăng giá cổ phiếu hoặc tối thiểu phải được giữ ổn định.
Vì vậy, để làm hài lòng các nhà đầu tư/cổ đông, các nhà quản lý phải có những điều chỉnh/thao túng về số liệu tài chính doanh nghiệp, từ đó tác động vào kỳ vọng của nhà đầu tư và đạt được mục tiêu về giá cổ phiếu. Đầu tư quá mức: Modigliani và Miller (1985) cho rằng trong thị trường hoàn hảo thì chính sách đầu tư của công ty không chịu tác động bởi quyết định tài trợ. Tuy nhiên, trong thế giới thực lại tồn tại các vấn đề như thông tin bất cân xứng, chi phí đại diện,. đã làm xuất hiện vấn đề “đầu tư dưới mức” (under-investment) hay “đầu tư vượt mức” (over-investment).
123doc 12 Theo bài nghiên cứu của Myer (1977), tác giả kết luận chính những mâu thuẫn giữa nhóm các cổ đông - nhà quản lý và các trái chủ trong một công ty có sử dụng nợ vay có thể làm giảm động cơ đầu tư vào những cơ hội kinh doanh có NPV dương vì lo sợ những lợi ích từ các dự án sẽ thuộc về trái chủ. Chính điều này đã dẫn đến vấn đề “đầu tư dưới mức” ( under-investment). Định nghĩa: Đầu tư quá mức (hay có thể gọi là đầu tư không tối ưu) là những quyết định đầu tư của Công ty vượt quá hoặc dưới mức cần thiết hoặc các quyết định đầu tư không có hiệu quả (NPV<0) nhằm đạt được những lợi ích cho nhà quản lý hoặc cổ đông.