CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUẢN TRỊ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát chung về tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp 1. Khái niệm tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp Ngày nay, cùng với sự phát triển của Khoa học kĩ thuật và công nghệ, các doanh nghiệp nhận ra giá trị ngày một lớn của các tài sản vô hình, “TSTT”, thay vì trước đây chỉ chú tâm vào những tài sản hữu hình như nhà xưởng, máy móc và cơ sở vật chất. Chính vì vậy, thuật ngữ “TSTT” trở nên phổ biến và được sử dụng rộng rãi từ các trang báo mạng, các nhà kinh tế, chính trị gia cho tới những nhà khoa học.
Hiểu theo nghĩa rộng, “TSTT là những thành quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, thể hiện dưới dạng các tri thức, thông tin, dữ liệu, bí quyết…mà chú thể có thể sở hữu một cách hợp pháp”2. Cụ thể hơn, TS.Đào Minh Đức định nghĩa “TSTT của doanh nghiệp là bất kỳ các dữ liệu, thông tin hoặc bí quyết, tri thức nào mà doanh nghiệp có thể sở hữu hoặc chiếm hữu một cách hợp pháp, thông qua hoạt động sáng kiến đổi mới bên trong doanh nghiệp hoặc tiếp nhận chuyển giao từ bên ngoài”.3 Cùng quan điểm đó, Lê Thị Thu Hà (2016) cũng đưa ra một định nghĩa về TSTT nói chung là “bất kỳ tri thức nào có giá trị do cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ, có khả năng ứng dụng và tạo ra giá trị từ việc sử dụng tri thức đó, dù được pháp luật bảo hộ hay chỉ có tính hữu ích thông thường. Khi các tài sản này được bảo vệ dưới góc độ pháp lý sẽ trở thành các quyền SHTT”4. Như vậy, dẫu chưa có một định nghĩa thống nhất về TSTT là gì, theo cách hiểu rộng, TSTT đều được hiểu là Tài sản vô hình tồn tại dưới dạng các 2 Chủ nhiệm đề tài: TS.
Vũ Thị Hải Yến (2012), Đề tài khoa học cấp bộ: Bảo vệ TSTT trong các doanh nghiệp Việt Nam – thực trạng và giải pháp, Bộ Tư pháp – Viện khoa học pháp lý, tr. Đào Minh Đức (2011), Tài liệu hội thảo: Mô thức tổ chức hoạt động quản trị TSTT trong doanh nghiệp, Sở KH&CN tỉnh Vĩnh Long, tr. 4 Lê Thị Thu Hà (2016), Phát triển du lịch trên cơ sở khai thác TSTT địa phương ở Việt Nam, Đề tài khoa học mã số B2015-08-22, tr. 8 thông tin, tri thức, có khả năng ứng dụng và tạo ra giá trị cho DN, được tạo lập qua hoạt động sáng kiến đổi mới.
Dưới góc độ pháp lý, thuật ngữ “TSTT” hiện diện trong cả các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam như trong Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa năm 2017, Luật SHTT 2005 hay Nghị định 13/2019/NĐ-CP ngày 01/2/2019 về Doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Thuật ngữ “TSTT” xuất hiện lần đầu tiên trong Luật SHTT tại Khoản 1, Điều 4 quy định về khái niệm “Quyền SHTT” theo đó “Quyền SHTT là quyền của tổ chức, cá nhân đối với TSTT, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) và quyền đối với giống cây trồng”. Theo khái niệm nêu trên, quyền SHTT là quyền đối với TSTT và do đó, TSTT có thể là đối tượng quyền SHTT bao gồm: các đối tượng của quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả; các đối tượng của quyền SHCN và các đối tượng của quyền đối với giống cây trồng tại Điều 3 Luật trên. Theo một khía cạnh khác, Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản5 mà quyền SHTT là một những quyền tài sản theo Điều 115 BLDS.
Điều này có nghĩa là TSTT có thể được tiếp cận không chỉ theo khía cạnh là đối tượng của quyền như đã phân tích ở trên mà còn có thể được hiểu là đối tượng có bản chất là quyền (quyền tài sản, hay quyền SHTT6). Sự khác biệt trong cách tiếp cận các dạng quyền SHTT dưới góc độ tài sản được thể hiện rõ nét trong Luật SHTT. Quyền tác giả là một dạng tài sản dưới hình thức quyền tài sản theo Điều 36 của Luật này7. Trong khi đó, các quy định về quyền SHCN lại coi đối tượng SHCN là tài sản khi sử dụng thuật ngữ “Chủ sở hữu đối tượng SHCN” tại Điều 121 và làm rõ về chủ sở hữu sáng chế, KDCN và các đối tượng SHCN khác.
Với cách tiếp cận này, quyền SHTT được coi là một dạng của quyền sở hữu mà không phải là tài sản nên trong 5 Khoản 1 Điều 105, Bộ luật Dân sự năm 2015. 6 Ngoài ra, TSTT còn có thể tiếp cận là quyền đối với các sáng kiến theo Điều lệ Sáng kiến được ban hành theo Nghị định số 13/2012/ NĐ-CP ngày 02/3/2012. 7 “Chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức, cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này” 9 các quy định về quyền SHCN, nội dung của quyền SHCN được làm rõ thông qua quyền năng sử dụng và định đoạt và được cụ thể hóa qua các độc quyền sử dụng 8. Như vậy, có thể thấy, với cách hiểu rộng, TSTT được hiểu là tất cả các thông tin, tri thức, dữ liệu, bí quyết mà DN đang nắm giữ và khai thác được nhằm mục đích sinh lời; trong khi đó, theo góc độ pháp lý, TSTT được hiểu hẹp hơn rất nhiều: là đối tượng quyền SHTT và/ hoặc quyền SHTT.
Trong bài viết này, TSTT trong DN sẽ được hiểu là một loại tài sản vô hình của DN tồn tại dưới dạng các thông tin, tri thức, có khả năng ứng dụng và tạo ra giá trị cho DN, được tạo lập qua hoạt động sáng kiến đổi mới.9 TSTT bao gồm: (i) những kết quả sáng tạo trí tuệ chưa được bảo hộ pháp lý, bao gồm các ý tưởng, sáng kiến, thông tin, bí quyết; (ii) các đối tượng của quyền SHTT được pháp luật ghi nhận và bảo hộ và (iii) quyền SHTT khi các đối tượng quyền SHTT đã được DN thực hiện các biện pháp bảo hộ. Trong đó, quyền SHTT là một loại TSTT đặc biệt. Khác biệt quan trọng nhất của quyền SHTT so với các TSTT khác, theo ngôn ngữ quản trị, là độc quyền sử dụng trong thương mại. 10 Ngôn ngữ pháp lý sử dụng cách phát biểu chặt chẽ hơn, theo đó, quyền SHTT là quyền phủ định (negative right), quyền ngăn cấm các chủ thể khác khai thác đối tượng SHTT đã được bảo hộ.
Đặc điểm của tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp TSTT trong doanh nghiệp có những đặc điểm nổi bật sau: - Tính vô hình: TSTT bao gồm những tri thức, hiểu biết, thông tin là kết quả của hoạt động sáng tạo nên mang tính phi vật chất, không thể nhận biết được sự tồn tại của tài sản này bằng giác quan của con người mà chỉ bằng nhận thức, trên thực tế, TSTT thường được thể hiện dưới một hình thức vật chất xác định nào đó như hình vẽ, ảnh chụp hay bản vẽ,… Trên thế giới, từ những năm 60 của thế kỷ XX, đã 8 Điều 123 và Điều 124 Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung năm 2009. 9 Bùi Hà Phương (2019), Hoạt động quản trị TSTT trong doanh nghiệp ở Việt Nam – Thực trạng và giải pháp, Khóa luật Tốt nghiệp, Trường đại học Luật Hà Nội, tr. Đào Minh Đức (2011), Tài liệu hội thảo: Mô thức tổ chức hoạt động quản trị TSTT trong doanh nghiệp, Sở KH&CN tỉnh Vĩnh Long, tr. 10 xuất hiện làn sóng các công ty xem xét việc đưa tài sản vô hình (trong đó có TSTT) vào bảng kế toán của DN.11 - Tính xác định được và kiểm soát được: Mặc dù vô hình nhưng vẫn có thể xác định được bản chất (nội dung), phạm vi (giới hạn), công dụng và giá trị bởi TSTT chịu sự kiểm soát và tác động của con người thông qua các hành vi có chủ đích (sáng tạo, khai thác, sử dụng, mua bán, trao đổi,.) nhằm tạo ra giá trị vật chất và tinh thần của tài sản.
- Khả năng mở rộng việc sử dụng: TSTT được con người nhận biết và chiếm hữu thông qua nhận thức nên nó có thể được sử dụng và khai thác cùng một lúc ở nhiều nơi bởi những người khác nhau, không giới hạn tần suất sử dụng. Đặc tính này cũng khiến cho TSTT có được những lợi thế vượt trội so với tài sản hữu bởi có thể khai thác thương mại cùng một lúc ở mọi nơi. Tuy nhiên cũng rất khó kiểm soát nếu như nó bị tùy tiện khai thác sử dụng. - Tính sinh lời: Do có bản chất tài sản, các TSTT đều có khả năng sinh lợi.
Không những thế TSTT còn là nhân tố quyết định sự gia tăng giá trị của sản phẩm, dịch vụ cũng như giá trị của DN. Hơn nữa, TSTT cũng tạo ra cho chủ sở hữu thu nhập từ việc chuyển nhượng (bán) hoặc chuyển giao quyền sử dụng (cấp li-xăng) cho người khác. - Không bị hao mòn, cạn kiện: Trong khi các tài sản vật chất luôn bị hao mòn, giảm giá trị qua quá trình sử dụng thì TSTT nhờ sự sáng tạo vô tận của con người không thể bị hao mòn và cạn kiệt, thậm chí càng sử dụng lâu dài, phạm vi sử dụng càng rộng thì càng có giá trị. TSTT còn có thể tiếp tục được sử dụng để sáng tạo ra những TSTT mới.
- Dễ bị xâm phạm: Xuất phát từ đặc tính vô hình nên TSTT không thể bị chiếm hữu về mặt thực tế và có khả năng lan truyền rất nhanh cũng như rất khó để kiểm soát. Từ những giá trị mà TSTT có thể mang lại, việc xâm phạm thường hay xảy ra như giả mạo nhãn hiệu, giả mạo chỉ dẫn địa lý,… nhằm trục lợi từ những sản 11 Kamil Idris, “Sở hữu trí tuệ - một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế”, sách do WIPO ấn hành, tr. 11 phảm tương tự hoặc thậm chí có chất lượng kém hơn. Việc này gây ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của chính chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ.
- Quyền sở hữu TSTT mang tính đặc thù khác quyền sở hữu tài sản thông thường Chủ sở hữu TSTT chỉ thực hiện hai quyền năng sử dụng và định đoạt do tính chất vô hình của TSTT nên quyền chiếm hữu không có ý nghĩa. Trong khi đó chủ sở hữu tài sản hữu hình thường có đầy đủ ba quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt. Quyền SHTT trong một số trường hợp bao gồm cả quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó có những quyền nhân thân luôn gắn liền với một chủ thể và không thể chuyển giao được.