phần mở đầu, kết luận và các biểu số liệu kèm theo, luận văn đƣợc chia thành 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Thành Phố Hà Nội. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng tại NHTM cổ phần Công thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Thành Phố Hà Nội. 6 Chƣơng 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.1 Khái quát về Ngân hàng thƣơng mại và rủi ro tín dụng của Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại đã hình thành tồn tại và phát triển hàng trăm năm gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá.
Sự phát triển hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao nhất là nền kinh tế thị trƣờng thì NHTM cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Thông qua hoạt động tín dụng thì NHTM tạo lợi ích cho ngƣời gửi tiền, ngƣời vay tiền và cho cả ngân hàng thông qua chênh lệch lại suất mà thu đƣợc lợi nhuận cho ngân hàng. Luật các tổ chức tín dụng: NHTM là tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật. Theo Luật Ngân hàng nhà nƣớc: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.2 Những hoạt động cơ bản của NHTM + Hoạt động huy động vốn: Để thực hiện chức năng cơ bản của mình là trung gian tài chính thì hoạt động huy động vốn phải đƣợc coi là hoạt động cơ bản, quan trọng nhất của NHTM.
NHTM huy động vốn dƣới các hình thức khác nhau nhƣ nhận tiền 7 gửi (tiền gửi thanh toán, tiết kiệm có kỳ hạn, tiết kiệm không kỳ hạn), đi vay, phát hành giấy tờ có giá, vốn tiếp nhận tài trợ, vốn ủy thác đầu tƣ. Nguồn vốn huy động dồi dào sẽ giúp NHTM chủ động trong hoạt động kinh doanh, giảm rủi ro thanh khoản. Tuy nhiên, NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ nên việc huy động nguồn vốn nhƣ thế nào sẽ đƣợc các NHTM đƣa ra trên cơ sở chiến lƣợc kinh doanh và diễn biến thị trƣờng trong từng thời kỳ. + Hoạt động sử dụng vốn: Ngân hàng thƣơng mại huy động vốn để cho vay, đầu tƣ, từ đó tạo lợi nhuận.
Việc sử dụng vốn hiệu quả sẽ nâng cao uy tín của NHTM, quyết định năng lực cạnh tranh giữa các NHTM. + Hoạt động tín dụng: Là việc NHTM sử dụng nguồn vốn huy động đƣợc để cho vay đối với các cá nhân, tổ chức có nhu cầu sử dụng vốn để tiêu dùng, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó NHTM thu lợi nhuận từ lãi suất cho vay sau khi bù đắp chi phí huy động vốn. Có thể nói hoạt động tín dụng (cho vay) là hoạt động có đóng góp lớn nhất vào tổng thu nhập của các NHTM. Theo thống kê thì khoảng 75% thu nhập của NHTM là thu từ hoạt động cho vay.
Một NHTM có tồn tại hay không, thành công hay thất bại phụ thuộc chủ yếu vào hiệu quả của hoạt động tín dụng. + Bảo lãnh: Là việc NHTM sử dụng uy tín của mình để cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính cụ thể nào đó thay cho khách hàng của mình trong trƣờng hợp khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết trong các giao dịch kinh tế. Khi phát hành các cam kết bảo lãnh này, ngân hàng thu đƣợc phí bảo lãnh. Các NHTM càng có uy tín thì việc thực hiện nghiệp vụ này càng phát triển.
+ Hoạt động đầu tƣ: 8 Ngoài nghiệp vụ cho vay thì NHTM có thể sử dụng vốn để đầu tƣ dƣới hình thức kinh doanh các chứng khoán, đầu tƣ góp vốn vào các doanh nghiệp, tổ chức để thu lợi tức. + Hoạt động thanh toán: Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM theo lệnh của khách hàng sẽ cung cấp các dịch vụ thanh toán tiền mua bán hàng hóa, dịch vụ, thông qua hệ thống tài khoản của khách hàng tại ngân hàng. + Hoạt động quản lý ngân quỹ: Thông qua hệ thống tài khoản của các cá nhân, tổ chức mở tại ngân hàng để thực hiện các giao dịch thanh toán, NHTM có thể cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ. Ngân hàng sẽ quản lý việc thu chi và tính toán đầu tƣ phần tiền nhàn rỗi tạm thời để thu lợi cho đến khi khách hàng có nhu cầu thanh toán chi trả.
+ Hoạt động thuê mua: Có rất nhiều trƣờng hợp khách hàng có nhu cầu mua tài sản nhƣng không đủ khả năng để mua tài sản đó, ngân hàng có thể đứng ra mua tài sản này theo yêu cầu của khách hàng và cho khách hàng thuê dƣới các hình thức: cho thuê hoạt động và cho thuê tài chính. + Hoạt động môi giới đầu tƣ chứng khoán: Khi thực hiện nghiệp vụ cho vay, đòi hỏi NHTM phải có sự hiểu biết toàn diện về các ngành nghề kinh tế, tìm hiểu sâu về các tổ chức doanh nghiệp,… Với lợi thế này, NHTM đã cung cấp dịch vụ môi giới đầu tƣ chứng khoán. Hiện nay có rất nhiều ngân hàng đã thành lập các Công ty chứng khoán trực thuộc để tăng tính chuyên nghiệp cho hoạt động này. + Dịch vụ bảo hiểm: Ngân hàng có thể thành lập các Công ty bảo hiểm trực thuộc để cung ứng dịch vụ bảo hiểm cho các khách hàng.
Đặc biệt, khi cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho tài sản thế chấp của khách hàng thì ngoài việc thu phí bảo hiểm, NHTM 9 còn tăng tính đồng bộ hóa trong hoạt động của mình, tạo sự thuận tiện cho khách hàng. + Hoạt động bảo quản tài sản: Là việc NHTM nhận lƣu giữ vàng, giấy tờ có giá và các tài sản khác cho khách hàng trong két sắt ngân hàng, từ đó thu phí dịch vụ.2 Rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm,phân loại và các chỉ tiêu phản ánh rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Khái niệm RRTD của NHTM Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng và các tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động của ngân hàng, của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết [ 11, điều 2]. Khi thực hiện một hoạt động cho vay cụ thể, ngân hàng không dự kiến là khoản cho vay đó sẽ bị tổn thất. Tuy nhiên những khoản cho vay đó luôn hàm chứa rủi ro.
Một số ý kiến cho rằng trên quan điểm quản lý toàn bộ ngân hàng, tỷ lệ tổn thất dự kiến đối với hoạt động tín dụng luôn đƣợc xác định trƣớc trong chiến lƣợc hoạt động chung. Do vậy khi tổn thất xảy ra dƣới mức tỷ lệ dự kiến, ngân hàng coi đó là một thành công trong quản lý. Phân loại RRTD của NHTM - Theo phƣơng diện quản lý + Rủi ro có thể kiểm soát đƣợc: là RRTD mà ngân hàng có thể phần nào dự đoán đƣợc chủ thể gây ra nó, ƣớc tính đƣợc mức độ ảnh hƣởng của nó, dự kiến đƣợc thời gian phát sinh ra nó, từ đó có những biện pháp hợp lý để phòng ngừa, hạn chế những tổn thất mà nó có thể gây ra xuống mức tối thiểu. + Rủi ro không thể kiểm soát đƣợc: là loại RRTD mà các ngân hàng không thể dự đoán trƣớc đƣợc, không thể biết chúng sẽ xảy ra khi nào, cũng không thể tính toán đƣợc một cách cụ thể, chính xác những ảnh hƣởng mà 10 chúng gây ra là chủ yếu do những bất lợi thuộc về các yếu tố tự nhiên nhƣ hạn hán, mất mùa, lũ lụt, hỏa hoạn… Các NHTM thƣờng phải tập trung vào để ngăn chặn hạn chế những rủi ro có thể kiểm soát đƣợc, còn rủi ro không thể kiểm soát đƣợc thì chỉ có cách chống đỡ khi chúng xảy ra.
- Phân loại theo tính chất của rủi ro: + Rủi ro sai hẹn: là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay vốn không hoàn trả gốc và lãi tiền vay đúng hẹn nhƣ trong hợp đồng. + Rủi ro mất vốn: là loại rủi ro xảy ra khi ngƣời vay vốn không trả đƣợc gốc tiền vay một cách đầy đủ nhƣ trong hợp đồng. Dù là chia theo cách nào đi chăng nữa thì RRTD cũng là một điều không mong muốn, luôn mang lại những tổn thất đối với tất cả các ngân hàng. Một khi có hoạt động ngân hàng thì còn tồn tại rủi ro trong hoạt động tín dụng.
Việc tìm hiểu và đƣa ra các biện pháp để quản lý tốt RRTD luôn đƣợc các ngân hàng quan tâm chú trọng. Các chỉ tiêu phản ánh RRTD Rủi ro tín dụng là sự tồn tại khách quan trong hoạt động của ngân hàng song các ngân hàng phải luôn quản lí RRTD nhằm hạn chế tới mức thấp nhất các tổn thất có thể xảy ra. Những dấu hiệu chính phát sinh trong hoạt động tín dụng phản ánh RRTD: - Nợ quá hạn và tỉ lệ nợ quá hạn Nợ bao gồm: Các khoản cho vay, ứng trƣớc, thấu chi và cho thuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thƣơng phiếu và các giấy tờ có giá khác, các khoản bao thanh toán,các hình thức tín dụng khác; “Nợ quá hạn” là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi đã quá hạn, hoặc ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng sai mục đích, hoặc tài sản đảm bảo bị giảm giá trị, hoặc khách hàng phá sản… Tỷ lệ nợ quá hạn: 11 Dƣ nợ quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn = x 100% Tổng dƣ nợ cho vay Theo quy định hiện hành của ngân hàng Nhà nƣớc thì tỉ lệ nợ quá hạn cho phép đối với các NHTM không đƣợc vƣợt quá 5% tổng dƣ nợ cho vay. Quy định này nhằm mục đích hạn chế tình trạng các ngân hàng cho vay ồ ạt, thiếu sự quản lý dẫn tới khả năng thanh khoản kém.