phần mở đầu, kết luận, mục lục, các bảng biểu, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan về quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại ngân 8 hàng thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên, Hà Nam. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản trị rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh thị xã Duy Tiên, Hà Nam. 9 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
RỦI RO TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tín dụng khách hàng cá nhân 1. Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Quan hệ tín dụng ra đời và tồn tại từ đòi hỏi khách quan của quá trình tuần hoàn vốn để giải quyết hiện tƣợng dƣ thừa, thiếu hụt vốn diễn ra thƣờng xuyên giữa các chủ thể trong nền kinh tế (Nguyễn Văn Tiến, 2014). Một cách khái quát, tín dụng là sự chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị (tài sản) từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng trong một khoảng thời gian nhất định; khi đến hạn, ngƣời sử dụng phải hoàn trả một lƣợng giá trị lớn hơn giá trị ban đầu.
Nhƣ vậy, phạm trù tín dụng có ba nội dung chính là: tính chuyển nhƣợng tạm thời một lƣợng giá trị, tính thời hạn và tính hoàn trả. Do đó, tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác (Nguyễn Văn Tiến, 2014) Khách hàng cá nhân (KHCN) tại NHTM là toàn bộ các cá thể trong xã hội có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự. Theo Bộ Luật Dân sự năm 2015, năng lực pháp luật dân sự là năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và có nghĩa vụ dân sự, mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự khác nhau, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi cá nhân đó mới sinh ra và chấm dứt khi cá nhân đó chết đi,năng lực pháp luật dân sự của cá nhân không bị hạn chế trừ một số trƣờng hợp do pháp luật quy định (cá nhân bị truy nã, đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự…). Nhƣ vậy, tín dụng KHCN tại NHTM là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giữa hai đối tƣợng: ngân hàng và KHCN của ngân hàng.
Mối quan hệ này đƣợc công nhận dựa trên hợp đồng tín dụng, trong đó ngân hàng chuyển giao một 10 lƣợng tiền tệ nhất định cho KHCN đƣợc sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời cam kết hoàn trả lại gốc và lãi theo thời gian đã thỏa thuận. Đặc điểm tín dụng khách hàng cá nhân Thứ nhất, quy mô các món vay thường nhỏ, nhưng số lượng các món vay lớn KHCN vay vốn của NHTM với mục đích chủ yếu là: - Bổ sung vốn kinh doanh: Thƣờng các hoạt động sản xuất kinh doanh này đều không có quy mô lớn, bên cạnh đó hầu hết khách hàng tìm đến ngân hàng khi đã có số vốn tƣơng đối nên chỉ bổ sung phần thiếu tƣơng đối nhỏ. - Phục vụ nhu cầu tiêu dùng hằng ngày: Khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ cho nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống nhƣ mua nhà, xe, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, du học. Đây đều là những khoản vay nhỏ lẻ tuy nhiên do đối tƣợng khách hàng là mọi cá nhân trong xã hội, từ những ngƣời có thu nhập cao, thu nhập trung bình và kể cả ngƣời có thu nhập thấp nên nhu cầu tín dụng khá đa dạng và phong phú.
Thứ hai, tín dụng KHCN gây tốn kém nhiều chi phí Do đặc điểm của KHCN là số lƣợng nhiều và phân tán rộng nên sẽ tốn kém nhiều chi phí cho các công tác nhƣ là mở rộng hệ thống mạng lƣới, quảng cáo, tiếp thị tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận đối tƣợng KHCN ở từng địa bàn, khu vực, phát triển nhân sự đầy đủ nhằm phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định đến quyết định cho vay, giải ngân và thu nợ cũng nhƣ các chi phí liên quan nhƣ: chi phí quản lý, văn phòng phẩm, điện, nƣớc, điện thoại, công tác phí hỗ trợ CBTD… Vì vậy mà lãi suất của tín dụng KHCN thƣờng cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp. Đối với các khoản vay cá nhân, do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng thƣờng không đầy đủ và khó thu thập nên ngân hàng thƣờng tốn nhiều chi phí cho việc xác định thẩm định và xét duyệt vay. Thứ ba, tín dụng KHCN rủi ro cao hơn so với khách hàng doanh nghiệp Ngoài những lý do chung của tín dụng ngân hàng thì các khoản vay KHCN còn có những rủi ro xuất phát từ bản thân khách hàng nhƣ điều kiện tài chính của cá nhân hay hộ gia đình có thể thay đổi bất lợi rất nhanh do bệnh tật, tai nạn, thất 11 nghiệp hay các bi kịch gia đình. Thứ tư, chất lượng thông tin tài chính của khách hàng vay thường không cao Khi thẩm định cho vay thì thông tin này là một yếu tố cực kỳ quan trọng để ngân hàng đƣa đến quyết định cho vay, bên cạnh tính hợp lý và hợp pháp của nhu cầu vốn, khả năng trả nợ và TSĐB.
Đối với khách hàng là tổ chức, việc nắm bắt thông tin khách hàng là tƣơng đối thuận lợi do có rất nhiều nguồn thông tin đƣợc công khai nhƣ: báo cáo tài chính, thông tin XHTD, tình hình nộp thuế, uy tín quan hệ với đối tác… Ngƣợc lại, đối với KHCN, việc đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thƣờng khó đầy đủ, rõ ràng và chính xác dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, khiến cho việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Thứ năm, KHCN chịu trách nhiệm vô hạn trên số tiền vay Với khách hàng doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp tƣ nhân) khi xảy ra các biến cố không mong muốn nhƣ phá sản, giải thể thì họ chỉ chịu trách nhiệm giới hạn trên vốn điều lệ đã đăng ký trƣớc đó. Điều này dẫn đến tình trạng là ngân hàng có thể sẽ không thu đƣợc nợ của mình nếu nguồn vốn của doanh nghiệp không đủ để trả nợ. Ngƣợc lại, trong trƣờng hợp xảy ra biến cố, KHCN phải chịu trách nhiệm toàn bộ đối với các chủ nợ nói chung và ngân hàng nói riêng.
Phân loại cho vay khách hàng cá nhân - hân loại theo mục đ ch Cho vay tiêu dùng: Là khoản vay đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các cá nhân, hộ gia đình nhƣ: xây nhà, sửa nhà, mua xe ô tô, du học, chữa bệnh, cƣới hỏi,… Cho vay SXKD: Là các khoản vay phục vụ mục đích bổ sung vốn SXKD, bổ sung vốn lƣu động, mua sắm tài sản cố định, đầu tƣ cơ sở vật chất cho hoạt động SXKD, đầu tƣ kinh doanh chứng khoán, vàng… (Nguyễn Văn Tiến, 2014). - hân loại theo k hạn Đối với hai hình thức cho vay trên, thời hạn cho vay có thể là ngắn hạn (dƣới 12 tháng), trung hạn (từ 12 tháng đến 60 tháng) và dài hạn (trên 60 tháng). - hân loại theo phương thức Phƣơng thức cho vay có thể là cho vay từng lần, cho vay trả góp, cho vay thấu chi, riêng đối với các nhu cầu vay bổ sung vốn lƣu động thƣờng xuyên trong sản xuất 12 kinh doanh thì phƣơng thức cho vay theo hạn mức tín dụng đƣợc áp dụng khá phổ biến. + Cho vay từng lần: Là phƣơng thức cho vay mà mỗi lần vay vốn thì khách hàng và ngân hàng làm các thủ tục vay vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng với nhau.
+ Cho vay trả góp: Khi vay vốn, ngân hàng và khách hàng thỏa thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc đƣợc chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời gian cho vay (Nguyễn Văn Tiến, 2014). - hân loại theo hạn mức + Cho vay theo hạn mức thấu chi: Là việc mà ngân hàng thỏa thuận bằng văn bản chấp thuận việc khách hàng chi vƣợt số tiền tự có trên tài khoản của khách hàng phù hợp với các quy định của Nhà nƣớc về việc thanh toán qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. + Cho vay theo hạn mức tín dụng: Ngân hàng và khách hàng xác định, thỏa thuận một mức dƣ nợ vay tối đa duy trì trong một khoảng thời gian xác định. - hân loại theo tài sản đảm ảo Các biện pháp đảm bảo an toàn cho vay là yếu tố quan trọng trong việc x t duyệt cho vay của ngân hàng với khách hàng, hiện tại ngân hàng xem x t cho vay với khách hàng dựa trên hai hình thức: + Cho vay có tài sản đảm bảo: Là các khoản vay đƣợc đảm bảo bằng tài sản thuộc sở hữu của chính khách hàng vay vốn hoặc của ngƣời thứ ba.
Tài sản đảm bảo có thể là số dƣ tài khoản tiền gửi, sổ tiết kiệm, bất động sản, hàng hóa, máy móc thiết bị,… (Nguyễn Văn Tiến, 2014). + Cho vay không có tài sản đảm bảo (cho vay tín chấp): Là cho vay không có tài sản đảm bảo, ngân hàng cho vay dựa trên uy tín của khách hàng. Ngân hàng lựa chọn các khách hàng có uy tín và khả năng trả nợ tốt để cho vay theo hình thức này 1. Rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1.
Quan niệm rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân Theo quan điểm của Ủy ban Basle thuộc Ngân hàng thanh toán quốc tế: RRTD là khả năng mà khách hàng vay hoặc bên đối tác không thực hiện đƣợc các nghĩa vụ của mình theo những điều khoản đã cam kết. 13 Theo Nguyễn Văn Tiến (2014), rủi ro là sự không chắc chắc liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong tƣơng lai. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành đƣợc một nghiệp vụ tài chính nhất định (Nguyễn Văn Tiến, 2014).