Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro lãi suất và quản trị rủi ro lãi suất của ngân hàng thƣơng mại Chương 2: Thực trạng quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro lãi suất tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO LÃI SUẤT TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO LÃI SUẤT 1. Khái niệm, phân loại lãi suất và vai trò của lãi suất đối với Ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm lãi suất “Lãi suất là giá cả của quyền sử dụng một đơn vị vốn vay trong một đơn vị thời gian nhất định (ngày, tuần, tháng hay năm)” [1, tr.126] Đây là loại giá cả đặc biệt, đƣợc hình thành trên cơ sở giá trị sử dụng chứ không phải trên cơ sở giá trị.
Giá trị sử dụng của khoản vốn vay là khả năng mang lại lợi nhuận cho ngƣời đi vay khi sử dụng vốn vay trong hoạt động kinh doanh hoặc mức độ thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó của ngƣời đi vay. Khác với giá cả hàng hóa, lãi suất không đƣợc biểu diễn dƣới dạng số tuyệt đối mà dƣới dạng tỷ lệ phần trăm (%). Lãi suất cũng đƣợc xem là tỷ lệ sinh lời mà ngƣời chủ sở hữu thu đƣợc khoản vốn cho vay. Diễn biến lãi suất ảnh hƣởng trực tiếp đến đời sống hàng ngày của mỗi chủ thể kinh tế, tác động đến những quyết định của cá nhân nhƣ chi tiêu hay để dành mua nhà , mua trái phiếu hay gửi tiền tiết kiệm.
Lãi suất cũng tác động đến những quyết định kinh tế của các doanh nghiệp nhƣ: dùng tiền để đầu tƣ thiết bị mới cho các nhà máy hoặc bỏ vào tài khoản tiền gửi mở tại ngân hàng. Do những ảnh hƣởng đó, lãi suất là một trong những biến số đƣợc theo dõi chặt chẽ nhất trong nền kinh tế và diễn biến của nó đƣợc đƣa tin hầu nhƣ hàng ngày trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng. Phân loại lãi suất a, Căn cứ vào nghiệp vụ ngân hàng - Lãi suất tiền gửi ngân hàng: là lãi suất ngân hàng trả cho các khoản tiền gửi vào ngân hàng. Lãi suất tiền gửi ngân hàng có nhiều mức khác nhau tùy thuộc vào: Loại 6 tiền gửi là nội tệ hay ngoại tê, Loại tài khoản là tiền gửi thanh toán hay tiền gửi tiết kiệm, Loại thời hạn là không kỳ hạn, ngắn hạn hay dài hạn, Quy mô tiền gửi.
- Lãi suất tiền vay ngân hàng: là lãi suất mà ngƣời đi vay phải trả cho ngân hàng là ngƣời cho vay. Lãi suất tiền vay ngân hàng (còn đƣợc gọi là lãi suất tín dụng) cũng có nhiều mức tùy theo loại tiền, thời hạn, phƣơng thức, mục đích tiền vay và theo mức độ quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng. - Lãi suất chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dƣới hình thức chiết khấu thƣơng phiếu hoặc giấy tờ có giá khác chƣa đến hạn thanh toán của khách hàng. Nó đƣợc tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và đƣợc khấu trừ ngay khi ngân hàng đƣa tiền vay cho khách hàng.
Nhƣ vậy, lãi suất chiết khấu đƣợc trả trƣớc cho ngân hàng chứ không trả sau nhƣ lãi suất tín dụng dụng thông thƣờng. - Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng trung ƣơng cho các ngân hàng trung gian vay dƣới hình thức chiết khấu lại thƣơng phiếu hoặc giấy tờ có giá ngắn hạn chƣa đến hạn thanh toán của các ngân hàng này. Nó cũng đƣợc tính bằng tỷ lệ phần trăm trên mệnh giá của giấy tờ có giá và cũng đƣợc khấu trừ ngay khi ngân hàng trung ƣơng cấp tiền vay cho ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu do ngân hàng trung ƣơng ấn định căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu của chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ và chiều hƣớng biến động lãi suất trên thị trƣờng liên ngân hàng.
Vì hoạt động tái chiết khấu cung ứng nguồn vốn cho các ngân hàng trung gian nên thông thƣờng lãi suất tái chiết khấu nhỏ hơn lãi suất chiết khấu. Tuy nhiên trong trƣờng hợp cần hạn chế khả năng mở rộng tín dụng khả năng mở rộng tín dụng của hệ thống ngân hàng, nhằm kiềm chế đẩy lùi lạm phát hoặc phạt các ngân hàng trung gian trong trƣờng hợp vi phạm các quy định các yêu cầu về thanh toán, ngân hàng trung ƣơng có thể ấn định lãi suất chiết khấu bằng thậm trí cao hơn lãi suất chiết khấu của hệ thống ngân hàng. - Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên thị trƣờng liên ngân hàng. Lãi suất liên ngân hàng đƣợc hình thành qua quan hệ cung cầu vốn vay trên thị trƣờng liên ngân hàng và chịu sự chi phối bởi lãi suất cho các ngân hàng trung gian vay của ngân hàng trung ƣơng.
Mức độ chi phối 7 này phụ thuộc vào sự phát triển của hoạt động thị trƣởng mở và tỷ trọng sử dụng vốn vay ngân hàng trung ƣơng của các ngân hàng trung gian. - Lãi suất cơ bản: là lãi suất đƣợc các ngân hàng sử dụng là cơ sở để ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình. Tại Việt Nam, lãi suất cơ bản là một công cụ thực hiện chính sách tiền tệ của NHNN Việt Nam. Theo luật NHNN, lãi suất cơ bản chỉ áp dụng cho Đồng Việt Nam, do NHNN công bố, là cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh.
Lãi suất cơ bản đƣợc xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trƣờng liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trƣờng mở, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hƣớng biến động cung cầu vốn. Theo luật Dân sự Việt Nam, các tổ chức tín dụng không đƣợc cho vay với lãi suất cao gấp rƣỡi lãi suất cơ bản.127-129] b, Căn cứ và giá trị của tiền lãi - Lãi suất danh nghĩa: là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ hay nói cách khác là loại lãi suất chƣa đƣợc trừ đi tỷ lệ lạm phát. Lãi suất danh nghĩa thƣờng đƣợc công bố chính thức trong các hợp đồng tín dụng và ghi rõ công cụ nợ. - Lãi suất thực: là lãi suất đƣợc điều chỉnh lại cho đúng những thay đổi về lạm phát, hay nói cách khác, là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát Lãi suất danh nghĩa = Lãi suất thực + Tỷ lệ lạm phát - Lãi suất thực trả: Lãi suất ghi trên hợp đồng thƣờng là tỷ lệ %/năm, tuy nhiên việc trả lãi có thể diễn ra định kỳ hàng tháng, quý.
6 tháng…do đó, so với mức lãi suất ghi trên hợp đồng thì mức lãi suất thực trả (hay thực nhận) sẽ cao hơn mức lãi suất ghi trên hợp đồng (vì lãi sinh ra lãi) [1, tr.129-130] c, Căn cứ vào tính linh hoạt của lãi suất - Lãi suất cố định: là lãi suất đƣợc quy định cố định trong suất thời hạn vay. Nó có ƣu điểm là số tiền lãi đƣợc cố định và biết trƣớc, nhƣng nhƣợc điểm là bị ràng buộc vào một mức lãi suất nhất định trong một khoảng thời gian dù cho lãi suất thị trƣờng thay đổi. - Lãi suất thả nổi: là lãi suất đƣợc quy định là có thể lên xuống theo lãi suất thị trƣờng trong thời hạn tín dụng(báo trƣớc hoặc không báo trƣớc). Lãi suất thả nổi vừa chứa đựng cả rủi ro lẫn lợi nhuận.130-131] 8 d, Căn cứ vào loại tiền vay - Lãi suất nội tệ: là lãi suất cho vay và đi vay nội tệ.
- Lãi suất ngoại tệ: là lãi suất cho vay và đi vay nội tệ. Mối liên hệ hai lãi suất này đƣợc thể hiện bằng phƣơng trình: rD = rF+ ∆Ee Trong đó: rD là lãi suất nội tệ, rF là lãi suất ngoại tệ, ∆Ee là mức tăng tỷ giá dự tính của đồng ngoại tệ.131-132] e, Căn cứ vào nguồn tín dụng trong nước hay quốc tế - Lãi suất trong nước hay lãi suất địa phương: là lãi suất áp dụng cho các hợp đồng tín dụng trong một quốc gia. - Lãi suất quốc tế: là lãi suất áp dụng trong các hợp đồng tín dụng quốc tế Các hợp đồng tín dụng quốc tế áp dụng mức lãi suất của thị trƣờng quốc gia nào thì lãi suất của thị trƣờng quốc gia đó trở thành lãi suất quốc tế. Lãi suất địa phƣơng chịu ảnh hƣởng của lãi suất quốc tế.
Nếu thị trƣờng vốn địa phƣơng mà tự do thì lãi suất địa phƣơng sẽ lên xuống theo lãi suất quốc tế. LIBOR (London Interbank Offered Rate) là lãi suất của Liên ngân hàng London công bố vào 11h trƣa hàng ngày tại London. Còn gọi là các ngân hàng bù trừ London, gồm 4 ngân hàng lớn: Barclays, Lloyds, National Westminster và Midland. Chúng kiểm soát khoảng 90% việc thanh toán bù trừ các khoản tiền gửi ngân hàng ở Anh.
Đây là lãi suất cho vay ngăn hạn thƣờng đƣợc sử dụng là lãi suất tham khảo trong các hợp đồng tín dụng quốc tế. Ngoài ra có lãi suất NIBOR của thị trƣờng NewYork. TIBOR của thị trƣơng Tokyo. SIBOR của thị trƣờng Singapore.
Vai trò của lãi suất đối với Ngân hàng Thương mại Với chìa khóa trong tay là lãi suất, các NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi từ các hộ gia đình, các doanh nghiệp, các tổ chức khác trong nền kinh tế để phân bổ đến nơi thiếu vốn, đang cần vốn để mở rộng sản xuất hoặc để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng. Để hoạt động hiệu quả, các NHTM cần phải đặt ra các mức lãi suất huy động và lãi suất cho vay hợp lý. Lãi suất huy động không đƣợc quá thấp vì nhƣ thế sẽ không khuyến khích dân chúng gửi tiền vào ngân hàng. Kết quả là NHTM gặp khó khăn trong việc huy động vốn 9 để cho vay.
Một mức lãi suất huy động hợp lý sẽ giúp các NHTM huy động đƣợc nguồn vốn nhàn rỗi từ dân chúng. Lãi suất cho vay của NHTM phải cao hơn lãi suất huy động và phải bù đắp đƣợc các chi phí cũng nhƣ rủi ro khác. Tuy nhiên, lãi suất cho vay không đƣợc quá cao vì nhƣ thế các doanh nghiệp, các hộ gia đình sẽ tìm các phƣơng án thay thế khác thay vì phải vay tiền từ ngân hàng. Nhƣ vậy, các NHTM sẽ gặp khó khăn trong vấn đề cho vay.
Một mức lãi suất cho vay hợp lý đủ để bù đắp các chi phí, rủi ro nhƣng vẫn đảm bảo khả năng vay vốn cho các doanh nghiệp, các hộ gia đình sẽ giúp các NHTM thu hút đƣợc nhiều khách hàng, đóng góp vào quá trình phân bổ vốn hiệu quả cho nền kinh tế.