Chương I: Cơ sở lý thuyết về quản trị lợi nhuận và bối cảnh nghiên cứu Chương 2: Thiết kế nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Hàm ý chính sách 8. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Quản trị lợi nhuận là “hành động của nhà quản trị trong việc lựa chọn các chính sách kế toán để mang lại lợi ích cho họ hoặc làm gia tăng giá trị thị trường của công ty” Scott, 1997!. Một số bối cảnh được công ty tận dụng để thực hiện điều chỉnh lợi nhuận như lần đầu phát hành cô phiếu ra công chúng, hoặc phát hành thêm cô phiếu; chính sách thuế thay đổi, chế độ thù lao đành cho người quản lý, công ty đang bị thanh tra, kiểm tra; bị tác động của nền kinh tế. Ở nước ta, động cơ thúc đây hành động quản trị lợi nhuận có thé là tạo hình ảnh và bức tranh tài chính tốt đẹp cho công ty nhằm thu hút đầu tư bên ngoài, giảm thiêu tối da chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, tối đa mức lương thưởng cho nhà quản lý,.
Như vậy khi có cơ hội, các nhà quản trị sẽ điều chỉnh lợi nhuận theo ý muốn chủ quan hướng đến mục tiêu của họ. Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về quản trị lợi nhuận và các giả thuyết đã được chứng minh bằng nhiều mô hình nghiên cứu thực nghiệm như các nghiên cứu của Healy [37], DeAngelo [24], Jones [39], Dechow va Sloan [31], Friedlan [33], Điều chỉnh của Jones [25],. Tén tại một số nghiên cứu lý thuyết về quản trị lợi nhuận ở trong nước. - Các nghiên cứu của Nguyễn Công Phương như: Nghiên cứu “Các mô hình nghiên cứu lợi nhuận ở các nước phát triển có phù hợp với bối cảnh Việt Nam? Phân tích lý thuyết” đã chỉ ra các động cơ điều chỉnh lợi nhuận [9], tổng hợp các mô hình quản trị lợi nhuận đã được kiểm nghiệm trên thế giới, phân tích ưu nhược điểm của từng mô hình, nghiên cứu này giúp cho các nghiên cứu trong nước có thể lựa chọn mô hình thích hợp đề vận dụng vào từng trường hợp nghiên cứu thực chứng.
Nghiên cứu “Về tính trung thực của chỉ tiêu lợi nhuận”, bài viết đề cập đến tính minh bạch của chỉ tiêu lợi nhuận công bố bởi các công ty niêm yết trên TTCK, phân tích khả năng điều chỉnh lợi nhuận của nhà quản tri va dé ' Trich tir nghién ctru cia PGS.TS Nguyễn Công Phương [9]. xuất vận dụng cơ chế chặc chẽ hơn về trình bày và công bố BCTC đề thông tin tài chính phản ánh trung thực, khách quan hơn [10]. Nghiên cứu “Kế toán theo cơ sở đồn tích và hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp”, bài viết đã cung cấp một bức tranh tài chính khái quát về mối quan hệ giữa hai cơ sở kế toán cơ bản với hành động quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp [11]. Nghiên cứu “Liên kết giữa kế toán và thuế ở Việt Nam”, bài viết đã chỉ ra ở nước ta có sự gắn kết chặt chẽ giữa kế toán và thuế [12].
-_ Một số nghiên cứu lý thuyết về quản trị lợi nhuận của các tác giả khác như: Tác giả Đường Nguyễn Hưng đã nghiên cứu về “Hành vi quan tri loi nhuận đối với thông tin lợi nhuận công bề trên báo cáo tài chính” một lần nữa khái quát lên hành vi, mục đích và các hướng điều chỉnh lợi nhuận [7]. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trí Tri “Những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chi phối thu nhập trên báo cáo tài chính”, nghiên cứu đã hệ thống một số kết quả nghiên cứu quan trọng, qua đó nêu ra một số kiến nghị về chính sách nhằm góp phần ngăn ngừa và giảm thiêu hành động điều chỉnh lợi nhuận [16]. Tuy nhiên, tất cả các nghiên cứu trên phần lớn tập trung phân tích lý thuyết, hoặc nghiên cứu thực nghiệm nhưng chưa vận dụng đầy đủ phiên bản cải tiến của mô hình Jones để đánh giá hành vi quản trị lợi nhuận của doanh nghiệp. Liên quan đến nghiên cứu điều chỉnh lợi nhuận trong bối cảnh có sự thay đối thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, có một sé nghiên cứu sau.
Nghién cwu “Book-Tax Conformity va Earnings Management in Response to Tax Rate Cuts” cua Dennis Sundvik, da tim hiểu - mối liên hệ giữa quản trị lợi nhuận và sự gắn kết giữa kế toán và thuế. Mẫu khảo sát được thực hiện là 32.472 công ty ở các quốc gia thuộc Châu Âu, những vùng giảm thuế TNDN trong 10 năm qua. Kết quả cho thấy những thay đổi trong thuế suất theo luật định sẽ ảnh hưởng lớn đến các công ty có sự gắn kết chặt chẽ giữa kế toán và thuế, và ngược lại những công ty có sự gắn kết giữa kế toán và thuế thấp thì ít ảnh hưởng. Như vậy, với những vùng sự gắn kết giữa kế toán và thuế chặt chẽ thì khi thuế thay đỗi sẽ dễ dấn đến hành động quản tri lợi nhuận [30].
Nam 2013, cac tac gia Martin Surya Mulyadi, Yunita Anwar va Lili Yanny thực hiện nghiên cứu “Analysis of Corporate Income Tax Rate Changes va Earnings Management” Nghién ctu nay tap trung vao sự kiện thuế suất thué TNDN thay đổi tác động đến quản trị lợi nhuận của các công ty niêm yết tại thị trường chứng khoán Indonesia. Các tác giả đã xây dựng mô hình giả thuyết với 5 nhân tố tác động đến quản trị lợi nhuận: Thay đổi mức thuế thu nhập doanh nghiệp; lập kế hoạch thuế; áp lực thu nhập; tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu; quy mô công ty. Kết quả phân tích cho thấy, nhân tổ tác động mạnh mẽ nhất tới hành vi quản trị lợi nhuận là mức thuế TNDN thay đổi [441]. Đề tài “Lựa chọn chính sách kế toán trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp” của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang [14], đã cho thấy khi thuế suất thuế TNDN giảm từ 28% năm 2008 xuống còn 25% năm 2009, có ba loại hình doanh nghiệp điều chỉnh giảm lợi nhuận đó là: Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân và công ty TNHH.
Riêng đối với CTCP không điều chỉnh giảm mà ngược lại, điều chỉnh tăng lợi nhuận nhằm thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài. Như vậy, động cơ điều chính lợi nhuận nhằm mục tiêu thuế ở các CTCP không phải lúc nào cũng được ưu tiên. Về mặt phương pháp, đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, thu thập số liệu, vận dụng các mô hình DeAnglo và Friedlan dé kiểm chứng số liệu và đưa ra kết luận. Với kết quả nghiên cứu phần nào đó làm rõ hơn chất lượng hoạt động SXKD của doanh nghiệp, giúp cho các đối tượng sử dụng thông tin có cái nhìn khách quan hơn, từ đó đưa ra quyết định đúng đắn.
Dé tài còn một số hạn chế như cỡ mẫu nhỏ, chỉ có 20 công ty và được chia thành 4 loại hình doanh nghiệp, không đủ đại diện cho tổng thể các doanh nghiệp ở Việt Nam. 20 công ty được chọn đều là các công ty lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo phương pháp trực tiếp. Tuy nhiên việc lập Báo cáo lưu chuyền tiền tệ theo phương pháp trực tiếp hay gián tiếp cũng sẽ ảnh hưởng đến kết quả nghiên cứu. Mặt khác mô hình DeAnglo và Friedlan còn nhiều hạn chế trong việc dự đoán hành vi điều chỉnh lợi nhuận.
Đề tài “Ảnh hưởng của sự thay đổi tỷ suất thuế TNDN đến việc điều chỉnh lợi nhuận: Trường hợp các công ty cổ phần niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán TP Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo đã nghiên cứu trong bối cảnh thay đổi thuế suất thuế TNDN [15]. Nghiên cứu đã cho thấy hơn 50 % các công ty có hành động quản trị lợi nhuận giảm ở năm trước năm thuế suất mới có hiệu lực. Hạn chế của đề tài này là dùng mô hình Friedlan, 1994 dé kiểm chứng biến kế toán dồn tích có thé điều chỉnh. Nghiên cứu “Xu hướng quản trị lợi nhuận do thay đổi thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam”, của tác giả Đặng Ngọc Hùng [5], đã cho thấy khi thuế suất thuế TNDN giảm từ 25% năm 2013 xuống 22% năm 2014, trong 193 mẫu được chọn năm 2013 có 87 công ty điều chỉnh tăng lợi nhuận chiếm tỷ lệ 45,1%, trong khi đó 106 công ty còn lại điều chỉnh giảm lợi nhuận chiếm tỷ lệ 54,9%.
Đề thực hiện nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp định lượng, dữ liệu được thu thập từ BCTC đã được kiểm toán của 193 công ty niêm yết trên TTCK Việt Nam giai đoạn 2011-2014. Nghiên cứu sử dụng mô hình đánh giá quản trị lợi nhuận của Friedlan - 1994, số liệu ban đầu được xử lý bằng Excel, phân tích và kiểm định thông qua phần mềm SPSS và công cụ thống kê toán. Kết quả cho thấy năm 2013 một số các công ty điều chỉnh giảm lợi nhuận với mục đích tiết kiệm thuế, các năm trước và sau 2013 điều chỉnh tăng lợi nhuận. Hạn chế của nghiên cứu là sử dụng mô hình quản trị lợi nhuận của Friedlan - 1994 nên kết quả nghiên cứu còn chưa thuyết phục.
Đề tài: “Sử dụng mô hình Jones đề nhận diện điều chỉnh lợi nhuận: Trường hợp các công ty niêm yết ở HOSE phát hành thêm cô phiếu năm 2013” của tác giả Phan Thị Thùy Dương đã cho thấy phần đa các công ty niêm yết điều chỉnh tăng lợi nhuận trước khi phát cô phiếu [4]. Đề tài sử dụng phương pháp định lượng, sử dụng mô hình quản trị lợi nhuận phiên bản cải tiến của mô hình Jones với kỳ nghiên cứu là quý để kiểm định giả thuyết. Song song với vận dụng mô hình tác giả kết hợp vận dụng các công cụ thống kê toán. Ưu điểm của đề tài này là sử dụng phiên bản cải tiến của mô hình Jones để kiểm định các giả thuyết, từ đó cho kết quả thuyết phục hơn.
Đề tài: “Nghiên cứu hành động quản trị lợi nhuận khi phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO): trường hợp Tổng công ty Hàng không Việt Nam” của tác giả Phan Việt Hùng đã cho kết quả Tổng công ty Hàng không Việt Nam có điều chỉnh tăng lợi nhuận khi lần đầu phát hành cô phiếu ra công chúng. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm (Empirical Study) dựa vào bằng chứng thu thập trực tiếp tại Tổng công ty Hàng không Việt Nam. Sử dụng mô hình biến dồn tích (accrual model) phiên bản cải tiến của mô hình Jones dé nhận diện hành động quan tri lợi nhuận [6]. Tóm lại, trong các nghiên cứu trên có hai nghiên cứu vận dụng phiên bản cải tiến của mô hình Jones.