chương 1, cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm đã nêu trong chương 2, chương 3 này sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu bao gồm việc xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thiết lập và tính toán các biến số trong mô hình nghiên cứu, mô tả dữ liệu và cách thức thu thập dữ liệu và nêu các phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Với mô hình và dữ liệu của các biến số đã được xây dựng trong chương 3, bằng phần mềm Stata 14.0, chương 4 này sẽ trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu bao gồm, kết quả phân tích ma trận tương quan của các yếu tố giải thích, kiểm định các hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan, kiểm định phương sai của sai số không đổi. Từ đó, chương này sẽ phân tích hồi qui tuyến tính, thiết lập và kiểm định tính phù hợp của hàm hồi qui, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Dựa trên các kết quả đó, chương này sẽ trình bày các phân tích, đánh giá về mối tương “ quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu.
Kết luận và hàm ý chính sách Chương 5 này, tác giả sẽ đưa ra những kết luận chính và các hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực QTCT, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN RỦI RO VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG Để xác định khoảng trống nghiên cứu, cũng như phát triển giả thuyết nghiên cứu, nội dung chương này sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến QTCT, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, hiệu quả tài chính cũng như các lý thuyết về tác động của QTCT đến rủi ro và hiệu quả tài chính ngân hàng, sự khác biệt giữa QTCT trong ngân hàng, đồng thời tóm tắt hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của QTCT đến rủi ro và hiệu quả tài chính. Các nhận xét và kết luận được rút ra từ nội dung chương này sẽ là cơ sở cho các chương tiếp theo. Quản trị công ty của ngân hàng thương mại 2.
Khái niệm quản trị công ty Trong những năm gần đây, khái niệm quản trị công ty đã trở nên khá phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Có khá nhiều cách định nghĩa quản trị công ty. Theo Shleifer và Vishny (1997), quản trị công ty là quá trình trong đó nhà đầu tư có thể đảm bảo rằng sẽ thu về lợi nhuận sau khi quyết định đầu tư. Trong khi đó, Cadbury Committee (1992) cho rằng quản trị công ty là hệ thống gồm các quy tắc được sử dụng để quản trị công ty một cách có hiệu quả.
Trong nghiên cứu của La Porta và ctg (2000), quản trị công ty là cơ chế thông qua đó các nhà đầu tư bên ngoài công ty cố gắng bảo vệ mình trước các hành vi xâm hại quyền và lợi ích từ các bên trong nội bộ công ty (các cổ đông lớn, cổ đông nắm quyền kiểm soát công ty hay trực tiếp tham gia quản lý trong các công ty). Các hành vi có thể gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các cổ đông có thể được thực hiện bằng nhiều cách, chẳng hạn như các cổ đông nắm quyền kiểm soát thực hiện việc bán tài sản của công ty với giá thấp hơn giá thị trường gây ảnh hưởng đến lợi ích của các 14 cổ đông hay hành vi đưa người thân gia đình vào tham gia quản lý công ty, che dấu các thông tin, thực hiện giao dịch nội gián. Theo Mathiesen (2002), quản trị công ty thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính. Theo như Macey & O’Hara (2003) thì mục đích của quản trị công ty là giảm những hoạt động rủi ro, trái luật của nhà quản lý và trái với kỳ vọng của nhà đầu tư.
Theo Mülbert (2010), quản trị công ty là quá trình ra quyết định của hội đồng quản trị và các nhà quản lý cao cấp nhằm đạt được mục tiêu của công ty và cổ đông, theo quan điểm này quản trị công ty được định nghĩa là một tập hợp các mối quan hệ giữa quản lý của một công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông, và các bên liên quan khác. Gillian (2006), cho rằng quản trị công ty gắn liền với việc giải quyết thuyết đại diện, đó là giải quyết mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Bên cạnh đó, Gillian (2006) cũng cho rằng có sự tách biệt giữa đối tượng bên trong hoặc bên ngoài cung cấp vốn với các đối tượng quản lý và sự cần thiết phải có cơ chế để đảm bảo hội đồng quản trị không thực hiện các hoạt động kinh doanh rủi ro ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một định nghĩa khác của Wells (2010) cho rằng quản trị công ty là cơ chế để nhằm giảm thiểu các vấn đề do việc tách quyền sở hữu và kiểm soát.
Nói cách khác, quản trị công ty thực hiện chức năng kiểm tra các vấn đề liên quan đến pháp lý, kinh tế, cơ chế xã hội nhằm thúc đẩy các nhà quản lý thực thi công việc đảm bảo lợi ích của cô đông và phát triển công ty. Hiện nay, định nghĩa về quản trị công ty chưa có sự thống nhất, chủ yếu được các tác giả đưa ra tuỳ theo cách hiểu và hoàn cảnh của mỗi người, phụ thuộc vào thể chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, đến nay, định nghĩa về quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận và phổ biến hơn so với các định nghĩa khác. OECD (2004) định nghĩa “Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty […], liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên 15 quan.
Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được ban giám đốc và hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn”. Riêng tại Việt Nam, Bộ Tài chính (2007) định nghĩa thuật ngữ quản trị công ty là “hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”. Kế thừa những quan điểm trên, có thể khái quát rằng: Thứ nhất, cơ cấu của bộ máy quản lý công ty xác định sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các thành viên khác nhau trong công ty.
Cấu trúc quản trị công ty hoàn chỉnh và hiệu quả gồm các cấu phần: chủ sở hữu, hội đồng quản trị, các uỷ ban giúp việc cho HĐQT, ban điều hành cấp cao, cấp trung và các nhân viên tác nghiệp trực tiếp. Thứ hai, cấu trúc quản trị công ty được coi như một yếu tố vô hình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông, của người gửi tiền đảm bảo tính minh bạch trong việc cung cấp các thông tin, báo cáo; tính tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; văn hoá tổ chức và những chuẩn mực đạo đức. Thứ ba, quản trị công ty có thể coi là một trong những công cụ quản lý nhằm giúp người chủ công ty có thể kiểm soát được các hoạt động của giám đốc điều hành, ban kiểm soát, hội đồng quản trị và một số đối tượng khác của công ty. Sự khác biệt giữa quản trị công ty trong ngân hàng và công ty khác Adams và Mehran (2003) và Macey và O’Hara (2003) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét sự khác biệt giữa quản trị công ty trong ngân hàng và phi ngân hàng.
Các ngân hàng có một số đặc điểm đặc biệt làm thay đổi vấn đề đại diện và đòi hỏi một cách nhìn khác nhau về quản trị công ty. Chẳng hạn, các ngân hàng được tổ chức theo nhiều cách khác nhau, từ các đơn vị kinh doanh độc lập, các công ty sở hữu nhiều ngân hàng và các công ty cổ phần (Macey và O’Hara, 2003; 16 Staikouras và ctg, 2007). Nghiên cứu của Adams và Mehran (2003) và Adams (2010) cho rằng HĐQT của các ngân hàng khác với các công ty phi tài chính, cụ thể là HĐQT của các ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định của cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra. Tài sản của ngân hàng chủ yếu là tài sản vô hình, làm cho chủ sở hữu khó khăn hơn trong việc theo dõi hoạt động của ngân hàng.
Hoạt động ngân hàng luôn đi kèm với chấp nhận rủi ro, mức độ rủi ro của ngân hàng có thể tăng lên rất nhanh chóng và dễ dàng. Các ngân hàng lại có thể che dấu (một phần nào đó) mức độ rủi ro thật sự của mình mà không phải bất kỳ nhà đầu tư bên ngoài nào có thể nhìn thấy (Becht và ctg, 2011). Hơn nữa, các ngân hàng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của các cơ quan quản lý và bảo hiểm tiền gửi. Sự tồn tại của cơ quan quản lý và bảo hiểm tiền gửi đảm bảo rằng nguồn vốn chủ yếu từ người gửi tiền được bảo vệ, vì các bên liên quan (người gửi tiền) ít quan tâm đến hồ sơ rủi ro của ngân hàng.
Khoa học công nghệ phát triển cùng với sự phức tạp về tài chính đã thách thức khả năng quản lý và giám sát truyền thống nhằm thúc đẩy hệ thống ngân hàng an toàn lành mạnh (Furfine, 2001). Một lý do khác là quản trị công ty của ngân hàng khác với quản trị công ty của các công ty khác là các bên liên quan của ngân hàng không chỉ có cổ đông mà còn có người gửi tiền và cơ quan quản lý (Becht và ctg, 2011).