Tác Động Của Quản Trị Công Ty Đến Rủi Ro Và Hiệu Quả Tài Chính Của Ngân Hàng Thương Mại Tại Việt Nam

Luận án tiến sĩ kinh tế nghiên cứu Tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở việt, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2021

229
6
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Vấn đề nghiên cứu và tính cấp thiết

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5. Phương pháp nghiên cứu

1.6. Kết quả đạt được và những đóng góp mới của đề tài

1.7. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN RỦI RO VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG

2.1. Quản trị công ty của ngân hàng thương mại

2.1.1. Khái niệm quản trị công ty

2.1.2. Sự khác biệt giữa quản trị công ty trong ngân hàng và công ty khác

2.1.3. Đo lường quản trị công ty

2.2. Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

2.2.1. Khái niệm về rủi ro

2.2.2. Các loại rủi ro trong kinh doanh ngân hàng

2.3. Hiệu quả tài chính trong ngân hàng và phương pháp đo lường

2.4. Các lý thuyết về tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính ngân hàng

2.4.1. Lý thuyết đại diện (Agency theory)

2.4.2. Lý thuyết các bên liên quan (Stakeholder theory)

2.4.3. Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Resource dependence theory)

2.5. Bằng chứng thực nghiệm

2.5.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị công ty đến rủi ro của ngân hàng

2.5.2. Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của ngân hàng

2.6. Khoảng trống nghiên cứu

2.7. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Mô hình đo lường tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam

3.2. Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu

3.2.1. Biến phụ thuộc rủi ro

3.2.2. Biến phụ thuộc hiệu quả tài chính

3.2.3. Các biến quản trị công ty

3.2.3.1. Quy mô HĐQT (Bsize)
3.2.3.2. Thành viên độc lập trong HĐQT (Bindep)
3.2.3.3. Thành viên nữ trong HĐQT (Femdir)
3.2.3.4. Thành viên HĐQT là người nước ngoài (Fordir)
3.2.3.5. Tỷ lệ thành viên HĐQT tham gia điều hành (Execdir)
3.2.3.6. Tỷ lệ thành viên HĐQT có trình độ sau đại học (Edu)
3.2.3.7. Sở hữu nhà nước (Soe)
3.2.3.8. Thành viên HĐQT có kết nối chính trị (Pol)

3.2.4. Các biến kiểm soát

3.3. Giả thuyết nghiên cứu

3.4. Dữ liệu nghiên cứu

3.5. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

3.6. Kết luận chương 3

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Thống kê mô tả các biến nghiên cứu

4.2. Phân tích mối tương quan giữa các biến

4.3. Đo lường tác động của quản trị công ty đến rủi ro của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2019

4.3.1. Kết quả nghiên cứu

4.3.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.4. Đo lường tác động của quản trị công ty đến hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011 – 2019

4.4.1. Kết quả nghiên cứu

4.4.2. Thảo luận kết quả nghiên cứu

4.5. Kết luận chương 4

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Hàm ý chính sách

5.1.1. Về nâng cao năng lực quản trị công ty

5.1.2. Về rủi ro và hiệu quả tài chính trong các NHTM Việt Nam

5.1.3. Đối với cơ quan quản lý nhà nước

5.2. Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1

PHỤ LỤC 2

PHỤ LỤC 3

PHỤ LỤC 4

PHỤ LỤC 5

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

Tóm tắt

I. Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu

Nghiên cứu này tập trung vào quản trị công ty và tác động của nó đến rủi rohiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Sau cuộc khủng hoảng kinh tế 2007-2009, các vấn đề về quản trị công ty trong ngân hàng trở nên cấp thiết. Ngân hàng có đặc thù riêng, với rủi ro cao và khả năng che giấu rủi ro từ các nhà quản lý. Từ năm 2011, các ngân hàng nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần cải thiện quản trị công ty, đặc biệt là quản lý rủi ro và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.

1.1. Vấn đề nghiên cứu và tính cấp thiết

Cuộc khủng hoảng tài chính 2007-2009 đã làm lộ rõ những yếu kém trong quản trị công ty của các ngân hàng. Ngân hàng có đặc thù riêng, với rủi ro cao và khả năng che giấu rủi ro từ các nhà quản lý. Từ năm 2011, các ngân hàng nước ngoài gia nhập thị trường Việt Nam, tạo ra sự cạnh tranh gay gắt. Để tồn tại và phát triển, các ngân hàng thương mại Việt Nam cần cải thiện quản trị công ty, đặc biệt là quản lý rủi ro và tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của quản trị công ty đến rủi rohiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với dữ liệu từ 29 ngân hàng trong giai đoạn 2011-2019.

II. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm

Nghiên cứu dựa trên các lý thuyết như lý thuyết đại diện, lý thuyết các bên liên quan, và lý thuyết phụ thuộc nguồn lực. Các nghiên cứu trước đây cho thấy quản trị công ty có tác động đáng kể đến rủi rohiệu quả tài chính của ngân hàng. Tuy nhiên, kết quả không đồng nhất giữa các quốc gia và thị trường.

2.1. Quản trị công ty trong ngân hàng

Quản trị công ty trong ngân hàng khác biệt so với các công ty khác do đặc thù về rủi ro và sự tham gia của nhiều bên liên quan như người gửi tiền và cơ quan quản lý. Các yếu tố như quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, và trình độ học vấn của HĐQT đóng vai trò quan trọng.

2.2. Rủi ro trong ngân hàng

Ngân hàng đối mặt với nhiều loại rủi ro như rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, và rủi ro thị trường. Quản trị công ty hiệu quả giúp giảm thiểu các rủi ro này và đảm bảo sự ổn định của ngân hàng.

III. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với mô hình GMM để phân tích dữ liệu từ 29 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2019. Các biến số được đo lường bao gồm quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, và các yếu tố kiểm soát như quy mô ngân hàng và GDP.

3.1. Mô hình nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng mô hình GMM để đo lường tác động của quản trị công ty đến rủi rohiệu quả tài chính. Các biến phụ thuộc bao gồm Z-Score (đo lường rủi ro) và ROA, ROE (đo lường hiệu quả tài chính).

3.2. Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu được thu thập từ 29 ngân hàng thương mại Việt Nam trong giai đoạn 2011-2019, với 261 quan sát. Các biến số được tính toán dựa trên báo cáo tài chính và thông tin quản trị của các ngân hàng.

IV. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố quản trị công ty như quy mô HĐQT, tỷ lệ thành viên độc lập, và trình độ học vấn của HĐQT có tác động đáng kể đến rủi rohiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Các yếu tố kiểm soát như quy mô ngân hàng và GDP cũng có ảnh hưởng.

4.1. Tác động đến rủi ro

Các yếu tố quản trị công ty như quy mô HĐQT và tỷ lệ thành viên độc lập giúp giảm thiểu rủi ro của ngân hàng. Điều này cho thấy tầm quan trọng của việc cải thiện quản trị công ty trong việc quản lý rủi ro.

4.2. Tác động đến hiệu quả tài chính

Các yếu tố quản trị công ty như trình độ học vấn của HĐQT và tỷ lệ thành viên độc lập có tác động tích cực đến hiệu quả tài chính của ngân hàng. Điều này khẳng định vai trò của quản trị công ty trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động.

V. Kết luận và hàm ý chính sách

Nghiên cứu kết luận rằng quản trị công ty có tác động đáng kể đến rủi rohiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Các hàm ý chính sách bao gồm việc nâng cao năng lực quản trị, cải thiện cơ cấu HĐQT, và tăng cường giám sát rủi ro.

5.1. Hàm ý chính sách

Các ngân hàng cần cải thiện quản trị công ty bằng cách tăng cường tính độc lập của HĐQT và nâng cao trình độ học vấn của các thành viên. Đồng thời, cần có các biện pháp giám sát rủi ro hiệu quả để đảm bảo sự ổn định của ngân hàng.

5.2. Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu có một số hạn chế như phạm vi dữ liệu hẹp và thiếu các yếu tố vĩ mô. Các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi dữ liệu và bổ sung các yếu tố vĩ mô để có kết quả toàn diện hơn.

13/02/2025
Tác động của quản trị công ty đến rủi ro và hiệu quả tài chính của các ngân hàng thương mại ở việt nam luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1, cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm đã nêu trong chương 2, chương 3 này sẽ trình bày thiết kế nghiên cứu bao gồm việc xây dựng mô hình nghiên cứu, cách thức thiết lập và tính toán các biến số trong mô hình nghiên cứu, mô tả dữ liệu và cách thức thu thập dữ liệu và nêu các phương pháp phân tích dữ liệu nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu và thảo luận Với mô hình và dữ liệu của các biến số đã được xây dựng trong chương 3, bằng phần mềm Stata 14.0, chương 4 này sẽ trình bày chi tiết kết quả nghiên cứu bao gồm, kết quả phân tích ma trận tương quan của các yếu tố giải thích, kiểm định các hiện tượng đa cộng tuyến, hiện tượng tự tương quan, kiểm định phương sai của sai số không đổi. Từ đó, chương này sẽ phân tích hồi qui tuyến tính, thiết lập và kiểm định tính phù hợp của hàm hồi qui, kiểm định các giả thuyết nghiên cứu. Dựa trên các kết quả đó, chương này sẽ trình bày các phân tích, đánh giá về mối tương “ quan giữa các biến trong mô hình nghiên cứu.

Kết luận và hàm ý chính sách Chương 5 này, tác giả sẽ đưa ra những kết luận chính và các hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực QTCT, hạn chế rủi ro và nâng cao hiệu quả tài chính của các NHTM Việt Nam, đồng thời cũng nêu lên những hạn chế của đề tài nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo. 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN RỦI RO VÀ HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA NGÂN HÀNG Để xác định khoảng trống nghiên cứu, cũng như phát triển giả thuyết nghiên cứu, nội dung chương này sẽ trình bày các khái niệm liên quan đến QTCT, rủi ro trong kinh doanh ngân hàng, hiệu quả tài chính cũng như các lý thuyết về tác động của QTCT đến rủi ro và hiệu quả tài chính ngân hàng, sự khác biệt giữa QTCT trong ngân hàng, đồng thời tóm tắt hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của QTCT đến rủi ro và hiệu quả tài chính. Các nhận xét và kết luận được rút ra từ nội dung chương này sẽ là cơ sở cho các chương tiếp theo. Quản trị công ty của ngân hàng thương mại 2.

Khái niệm quản trị công ty Trong những năm gần đây, khái niệm quản trị công ty đã trở nên khá phổ biến tại nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Có khá nhiều cách định nghĩa quản trị công ty. Theo Shleifer và Vishny (1997), quản trị công ty là quá trình trong đó nhà đầu tư có thể đảm bảo rằng sẽ thu về lợi nhuận sau khi quyết định đầu tư. Trong khi đó, Cadbury Committee (1992) cho rằng quản trị công ty là hệ thống gồm các quy tắc được sử dụng để quản trị công ty một cách có hiệu quả.

Trong nghiên cứu của La Porta và ctg (2000), quản trị công ty là cơ chế thông qua đó các nhà đầu tư bên ngoài công ty cố gắng bảo vệ mình trước các hành vi xâm hại quyền và lợi ích từ các bên trong nội bộ công ty (các cổ đông lớn, cổ đông nắm quyền kiểm soát công ty hay trực tiếp tham gia quản lý trong các công ty). Các hành vi có thể gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các cổ đông có thể được thực hiện bằng nhiều cách, chẳng hạn như các cổ đông nắm quyền kiểm soát thực hiện việc bán tài sản của công ty với giá thấp hơn giá thị trường gây ảnh hưởng đến lợi ích của các 14 cổ đông hay hành vi đưa người thân gia đình vào tham gia quản lý công ty, che dấu các thông tin, thực hiện giao dịch nội gián. Theo Mathiesen (2002), quản trị công ty thường giới hạn trong phạm vi câu hỏi về cải thiện hiệu suất tài chính. Theo như Macey & O’Hara (2003) thì mục đích của quản trị công ty là giảm những hoạt động rủi ro, trái luật của nhà quản lý và trái với kỳ vọng của nhà đầu tư.

Theo Mülbert (2010), quản trị công ty là quá trình ra quyết định của hội đồng quản trị và các nhà quản lý cao cấp nhằm đạt được mục tiêu của công ty và cổ đông, theo quan điểm này quản trị công ty được định nghĩa là một tập hợp các mối quan hệ giữa quản lý của một công ty, hội đồng quản trị, các cổ đông, và các bên liên quan khác. Gillian (2006), cho rằng quản trị công ty gắn liền với việc giải quyết thuyết đại diện, đó là giải quyết mâu thuẫn giữa chủ sở hữu và nhà quản lý. Bên cạnh đó, Gillian (2006) cũng cho rằng có sự tách biệt giữa đối tượng bên trong hoặc bên ngoài cung cấp vốn với các đối tượng quản lý và sự cần thiết phải có cơ chế để đảm bảo hội đồng quản trị không thực hiện các hoạt động kinh doanh rủi ro ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Một định nghĩa khác của Wells (2010) cho rằng quản trị công ty là cơ chế để nhằm giảm thiểu các vấn đề do việc tách quyền sở hữu và kiểm soát.

Nói cách khác, quản trị công ty thực hiện chức năng kiểm tra các vấn đề liên quan đến pháp lý, kinh tế, cơ chế xã hội nhằm thúc đẩy các nhà quản lý thực thi công việc đảm bảo lợi ích của cô đông và phát triển công ty. Hiện nay, định nghĩa về quản trị công ty chưa có sự thống nhất, chủ yếu được các tác giả đưa ra tuỳ theo cách hiểu và hoàn cảnh của mỗi người, phụ thuộc vào thể chế cũng như quốc gia hay truyền thống pháp lý cụ thể. Tuy nhiên, đến nay, định nghĩa về quản trị công ty của Tổ chức hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) được nhiều quốc gia trên thế giới công nhận và phổ biến hơn so với các định nghĩa khác. OECD (2004) định nghĩa “Quản trị công ty là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty […], liên quan tới các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên 15 quan.

Quản trị công ty cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty, và xác định các phương tiện để đạt được những mục tiêu đó, cũng như để giám sát kết quả hoạt động của công ty. Quản trị công ty chỉ được cho là có hiệu quả khi khích lệ được ban giám đốc và hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng như phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn”. Riêng tại Việt Nam, Bộ Tài chính (2007) định nghĩa thuật ngữ quản trị công ty là “hệ thống các quy tắc để đảm bảo cho công ty được định hướng điều hành và được kiểm soát một cách có hiệu quả vì quyền lợi của cổ đông và những người liên quan đến công ty”. Kế thừa những quan điểm trên, có thể khái quát rằng: Thứ nhất, cơ cấu của bộ máy quản lý công ty xác định sự phân chia quyền hạn và trách nhiệm giữa các thành viên khác nhau trong công ty.

Cấu trúc quản trị công ty hoàn chỉnh và hiệu quả gồm các cấu phần: chủ sở hữu, hội đồng quản trị, các uỷ ban giúp việc cho HĐQT, ban điều hành cấp cao, cấp trung và các nhân viên tác nghiệp trực tiếp. Thứ hai, cấu trúc quản trị công ty được coi như một yếu tố vô hình nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của các cổ đông, của người gửi tiền đảm bảo tính minh bạch trong việc cung cấp các thông tin, báo cáo; tính tuân thủ các chuẩn mực kế toán, kiểm toán quốc tế; văn hoá tổ chức và những chuẩn mực đạo đức. Thứ ba, quản trị công ty có thể coi là một trong những công cụ quản lý nhằm giúp người chủ công ty có thể kiểm soát được các hoạt động của giám đốc điều hành, ban kiểm soát, hội đồng quản trị và một số đối tượng khác của công ty. Sự khác biệt giữa quản trị công ty trong ngân hàng và công ty khác Adams và Mehran (2003) và Macey và O’Hara (2003) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét sự khác biệt giữa quản trị công ty trong ngân hàng và phi ngân hàng.

Các ngân hàng có một số đặc điểm đặc biệt làm thay đổi vấn đề đại diện và đòi hỏi một cách nhìn khác nhau về quản trị công ty. Chẳng hạn, các ngân hàng được tổ chức theo nhiều cách khác nhau, từ các đơn vị kinh doanh độc lập, các công ty sở hữu nhiều ngân hàng và các công ty cổ phần (Macey và O’Hara, 2003; 16 Staikouras và ctg, 2007). Nghiên cứu của Adams và Mehran (2003) và Adams (2010) cho rằng HĐQT của các ngân hàng khác với các công ty phi tài chính, cụ thể là HĐQT của các ngân hàng phải đáp ứng các điều kiện và tiêu chuẩn theo quy định của cơ quan quản lý ngân hàng đặt ra. Tài sản của ngân hàng chủ yếu là tài sản vô hình, làm cho chủ sở hữu khó khăn hơn trong việc theo dõi hoạt động của ngân hàng.

Hoạt động ngân hàng luôn đi kèm với chấp nhận rủi ro, mức độ rủi ro của ngân hàng có thể tăng lên rất nhanh chóng và dễ dàng. Các ngân hàng lại có thể che dấu (một phần nào đó) mức độ rủi ro thật sự của mình mà không phải bất kỳ nhà đầu tư bên ngoài nào có thể nhìn thấy (Becht và ctg, 2011). Hơn nữa, các ngân hàng phải tuân thủ các quy định chặt chẽ của các cơ quan quản lý và bảo hiểm tiền gửi. Sự tồn tại của cơ quan quản lý và bảo hiểm tiền gửi đảm bảo rằng nguồn vốn chủ yếu từ người gửi tiền được bảo vệ, vì các bên liên quan (người gửi tiền) ít quan tâm đến hồ sơ rủi ro của ngân hàng.

Khoa học công nghệ phát triển cùng với sự phức tạp về tài chính đã thách thức khả năng quản lý và giám sát truyền thống nhằm thúc đẩy hệ thống ngân hàng an toàn lành mạnh (Furfine, 2001). Một lý do khác là quản trị công ty của ngân hàng khác với quản trị công ty của các công ty khác là các bên liên quan của ngân hàng không chỉ có cổ đông mà còn có người gửi tiền và cơ quan quản lý (Becht và ctg, 2011).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ