CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN TRỊ CHUỖI CUNG ỨNG MẶT HÀNG GIÀY THỂ THAO 1. Khái quát chung về chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng và quản trị chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng Khái niệm chuỗi cung ứng ra đời cách đây vài thập niên và xuất hiện lần đầu tiên tại Việt Nam khoảng năm 1980.
Với nhiều cách tiếp cận khác nhau đã dẫn đến nhiều định nghĩa khác nhau về chuỗi cung ứng có thể kể đến như: “Chuỗi cung ứng là một mạng lưới các lựa chọn và phân phối nhằm thực hiện các chức năng thu mua nguyên liệu, chuyển đổi nguyên liệu thành bán sản phẩm/thành phẩm và phân phối chúng cho khách hàng” (Ganesham, Ran and Terry P. Harrison, 1995, An introduction to supply chain management). “Chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn có liên quan, trực tiếp hay gián tiếp, đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ bao gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp, mà còn bao gồm cả nhà vận chuyển, kho bãi, người bán lẻ và bản thân khách hàng” (Chopra Sunil và Peter Meindl, 2001, Supply chain management: Strategy, planning and operation).
“Chuỗi cung ứng bao gồm các liên kết giữa các tổ chức trong dòng chảy xuôi chiều và ngược chiều của sản phẩm, dịch vụ, tài chính, thông tin từ nguồn ban đầu đến khách hàng cuối cùng” (Robert M. Patterson, 2009) Trên cơ sở những định nghĩa trên có thể hiểu đơn giản “Chuỗi cung ứng là mối liên kết thành dòng chảy phối hợp của sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển giữa các thành viên, từ giai đoạn thu mua nguyên liệu đầu vào, sản xuất chế biến và phân phối sản phẩm tới người tiêu dùng cuối cùng”. Khái niệm quản trị chuỗi cung ứng Dựa theo những cách tiếp cận khác nhau về chuỗi cung ứng đưa đến nhiều định nghĩa khác nhau về quản trị chuỗi cung ứng có thể kể đến như: 12 “Quản trị chuỗi cung ứng là tập hợp các phương pháp được sử dụng để kết hợp một cách có hiệu quả các nhà cung cấp, các nhà sản xuất, các kho hàng và các cửa hàng để hàng hóa được sản xuất và phân phối đúng số lượng, đúng địa điểm và đúng thời điểm nhằm giảm thiểu các chi phí hệ thống và thỏa mãn các yêu cầu về mức độ dịch vụ” (David Simchi-Levi, Philip Kaminsky, Edith Simchi-Levi, 2008). “Quản trị chuỗi cung ứng là sự phối hợp các công cụ từ lập kế hoạch và điều khiển các bước trong mạng lưới từ thu mua nguyên vật liệu, chuyển hóa thành sản phẩm và vận chuyển sản phẩm và dịch vụ tới khách hàng” (Joe D.
Wisner, Keah- Choon Tan, G. Keong Leong, 2009, Priciples Supply Chain Management – A Balanced Approach). “Quản trị chuỗi cung ứng là hoạt động định hướng, quản lý hai chiều và phối hợp của sản phẩm, dịch vụ, thông tin, tài chính thành dòng chảy từ nguyên vật liệu đến người sử dụng cuối cùng” (Robert M. Như vậy “Quản trị chuỗi cung ứng (SCM) là sự phối kết hợp nhiều thủ pháp nghệ thuật và khoa học liên quan đến sản xuất, tồn kho, địa điểm và vận chuyển nhằm cải thiện cách thức các công ty tìm kiếm những nguồn nguyên liệu thô cấu thành sản phẩm/dịch vụ, cắt giảm chi phí sản xuất, cải thiện năng suất hoạt động, tồn kho an toàn, đưa đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng khách hàng, đúng thời gian và địa điểm, gia tăng lợi nhuận mà không ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhịp nhàng và hiệu quả nhu cầu thị trường, tạo lợi thế cạnh tranh bền vững cho các tổ chức liên quan trong chuỗi”.
Cấu trúc và mô hình chuỗi cung ứng 1. Cấu trúc chuỗi cung ứng a. Chuỗi cung ứng hợp tác theo chiều dọc: khi hai hoặc nhiều tổ chức chia sẻ trách nhiệm, nguồn lực và thông tin cho các bên liên quan, thường áp dụng trong các ngành công nghiệp thâm dụng vốn và công nghệ như sản xuất xe hơi, máy bay, điện tử. Chuỗi cung ứng hợp tác theo chiều dọc gồm: 13 + Dòng chuỗi cung ứng xuôi – ngược: khi lấy một tổ chức làm quy chiếu, các hoạt động dịch chuyển nguyên vật liệu đến được gọi là ngược dòng; ngược lại các hoạt động dịch chuyển vật liệu ra gọi là xuôi dòng.1: Dòng chuỗi cung ứng xuôi – ngược (Nguồn: IESCL, 2012, Lý thuyết chuỗi cung ứng, tr.11) + Dòng chuỗi cung ứng hội tụ - phân kỳ: Trên thực tế đa số nguyên vật liệu được mua từ nhiều nhà cung cấp và sản phẩm được bán cho nhiều khách hàng.
Chuỗi hội tụ khi nguyên vật liệu dịch chuyển giữa các nhà cung cấp như nhà lắp ráp bộ phận, cụm chi tiết là nhà cung cấp cấp 1, công ty sản xuất linh kiện là nhà cung cấp cấp 2, nhà cung cấp vật liệu là nhà cung cấp cấp 3. Chuỗi phân kỳ khi sản phẩm dịch chuyển xuyên suốt các khách hàng như trung gian bán sỉ là khách hàng cấp 1, nhà bán lẻ là khách hàng cấp 2 và khách hàng cuối cùng là khách hàng cấp 3.2: Dòng chuỗi cung ứng hội tụ - phân kỳ (Nguồn: IESCL, 2012, Lý thuyết chuỗi cung ứng, tr. Chuỗi cung ứng hợp tác theo chiều ngang: khi hai hay nhiều tổ chức thay vì hợp tác, chia sẻ các thông tin và nguồn lực lại cạnh tranh nhau, chuỗi cung ứng do phía cầu hay người mua quyết định, thường áp dụng trong những ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thâm dụng lao động như ngành may mặc, giày dép và các hàng thủ công khác. Chuỗi cung ứng hợp tác theo chiều ngang gồm: 14 + Dòng vật chất/hàng hóa: Dòng nguyên liệu đi từ nhà cung cấp qua các trung gian, chuyển đến doanh nghiệp trung tâm để sản xuất ra thành phẩm và cung cấp cho khách hàng cuối cùng thông qua mạng lưới phân phối.
+ Dòng thông tin: Dòng trao đổi 2 chiều giữa các mắt xích, kết nối từ hoạt động đặt hàng với nhà cung cấp (thị trường nguyên liệu, kế hoạch thu mua sản xuất) đến các phản hồi từ khách hàng (dự báo thị trường, đặc điểm cung cầu sản phẩm, thị hiếu người dùng, ý kiến sau khi sử dụng sản phẩm/dịch vụ). + Dòng tài chính: ngược với dòng hàng hóa, dòng tài chính đi từ người mua tới người bán, liên kết các thành phần trong chuỗi bởi yếu tố lợi nhuận.3: Chuỗi cung ứng hợp tác theo chiều ngang (Nguồn: IESCL, 2012, Lý thuyết chuỗi cung ứng, tr. Mô hình chuỗi cung ứng a. Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản: công ty mua nguyên vật liệu từ một nhà cung cấp, sản xuất ra sản phẩm tại một địa điểm duy nhất và bán hàng trực tiếp cho người sử dụng, áp dụng phổ biến ở công ty có quy mô nhỏ.
NHÀ CUNG CẤP NHÀ SẢN XUẤT KHÁCH HÀNG Hình 1.4: Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản (Nguồn: Souviron, 2006, Strategic Supply Chain Planning, tr. Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng: Công ty tự sản xuất, thu mua nguyên vật liệu trực tiếp hoặc thông qua trung gian từ các nhà cung cấp, các bộ phận được chế tạo ở nhiều nhà máy chuyển đến doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm phân phối đến nhà bán sỉ rồi đến nhà bán lẻ và sau cùng đến tay nhiều người tiêu dùng thông qua hợp tác với các đối tác cung cấp dịch vụ về logistics, hậu cần, tài chính, marketing, công nghệ thông tin, nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm.5: Mô hình chuỗi cung ứng mở rộng điển hình (Nguồn: Souviron, 2006, Strategic Supply Chain Planning, tr. Thành phần của chuỗi cung ứng Nhà Nhà Nhà Nhà Người cung cấp sản xuất phân phối bán lẻ tiêu dùng Hình 1.6: Thành phần của chuỗi cung ứng (Nguồn: Lambert và cộng sự, 2005, An Evaluation of process oriented supply chain frameworks, tr 25) - Nhà cung cấp: có khả năng chuyên môn đặc thù cung ứng đầu vào phục vụ sản xuất và các dịch vụ như công nghệ thông tin, logistics, nghiên cứu thị trường. Ví dụ, để sản xuất ra một đôi giày Nike Việt Nam cần sử dụng cao su thiên nhiên/tổng hợp, các hợp chất nhựa, vật liệu đệm bọt, da vải, nylon, polyester và canvas, màng phim polyurethane, trong đó có các nhà cung cấp tiêu biểu như về đệm Air-Sole (DOAS/IHM), hộp giày (CLCBD, Tân Á), thùng (AP, CLCBD, Tomoku, Tân Á), giấy gói (Nam Phương), giấy nhét (Đông Tây Tây Nguyên), dây giày (HongWon, ChenTai), vải (DongJin, You Young, GJL), da giày (KuoYuen, TongHong, YoungIl), polymer (nhập khẩu từ Đài Loan), OIA (dịch vụ quản trị chuỗi cung ứng SCM), Damco (dịch vụ vận chuyển cho thuê kho bãi)… 16 - Nhà sản xuất: sử dụng các yếu tố đầu vào (nguyên liệu, bán thành phẩm) tận dụng tối đa nghiệp vụ quản lý sản xuất tạo ra sự thông suốt và hiệu quả của dây chuyền chuỗi cung ứng.
Mỗi công ty sẽ có 3 lựa chọn để sản xuất (1) sở hữu tự vận hành các nhà máy, (2) gia công nội địa với lợi thế dễ dàng theo dõi, lực lượng lao động có tay nghề cao, hiểu rõ nội quy lao động nhưng tốn kém chi phí, (3) gia công ngoài tại các nước đang phát triển ưu thế về chi phí nhân công, nguồn nguyên vật liệu, vận chuyển, giảm rủi ro tồn kho, sự bất ổn về môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trong nước và giải quyết vấn đề cung ứng tại thị trường đầu ra nhưng phải đối mặt với áp lực về giám sát chất lượng sản phẩm và khả năng kiểm soát về điều kiện làm việc tại các nhà máy gia công. Ví dụ danh sách các nhà máy gia công giày thể thao của Nike tại Việt Nam tham khảo tại phụ lục 3. - Nhà phân phối (nhà bán sỉ): thu mua sản phẩm với số lượng lớn, lưu trữ, quản lý tồn kho, vận chuyển, điều hành cửa hàng và thực hiện các chương trình khuyến mãi, chăm sóc khách hàng và hạ giá sản phẩm, theo dõi và khuyến khích tạo ra sản phẩm phù hợp, thích ứng nhu cầu khi mới phôi thai hoặc có thay đổi và là cầu nối đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến khách hàng. Ví dụ, Uniqlo - công ty thiết kế, may mặc và bán lẻ trang phục của Nhật Bản định hướng thời trang đơn giản và tiện dụng cùng với H&M, Zara là ba thương hiệu thời trang bình dân bán lẻ lớn nhất thế giới với sở hữu hơn 1.
Uniqlo kinh doanh theo hai phương thức thương mại trực tiếp và gián tiếp, ứng với mỗi phương thức có hệ thống phân phối khác nhau: tại thị trường Nhật, Uniqlo hợp tác phân phối với các công ty thương mại lớn như Mitsubishi, Marubeni, Itochu. Ngược lại tại các quốc gia khác Uniqlo sẽ thông qua hệ thống quản lý và phân phối của chính công ty Uniqlo.