Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động y tế học đường tại trường trung học cơ sở. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động y tế học đường tại các trường trung học cơ sở thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động y tế học đường tại các trường trung học cơ sở thành phố Đồng Xoài, tỉnh Bình Phước. 6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LU N VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG Y TẾ HỌC ĐƢỜNG TẠI TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Khái quát lịch sử nghiên cứu về quản lý hoạt động y tế học đƣờng tại các trƣờng trung học cơ sở. Các nghiên cứu ở nước ngoài 1. Các nghiên cứu về y tế trường học Cho tới nay đã có một số nghiên cứu y tế trường học trên thế giới. Nghiên cứu của tác giả Lee A- Trung Quốc năm 2007 các vấn đề phát hiện ở học sinh phổ thông bao gồm các vấn đề về tinh thần, thói quen ăn uống không có lợi cho sức khỏe, ít hoạt động thể chất và các hành vi có nguy cơ dẫn tới những tai nạn thương tích có chủ đích và không có chủ đích cho học sinh và các tỷ lệ này đều cao hơn ở các học sinh THCS.
Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng thiếu các chính sách y tế ở trường học và các dịch vụ y tế không sẵn sàng tiếp cận cho học sinh và giáo viên, và thiếu các nhân viên được đào tạo về nâng cao sức khỏe (Lee A, 2007). Năm 2001, Ippolito-Shepherd, Cerqueira, và Ortega tiến hành một nghiên cứu trên 19 nước Mỹ Latin đánh giá thực trạng và xu hướng mô hình trường học nâng cao sức khỏe trong khu vực nhằm xây dựng các chương trình hoạt động giáo dục và nâng cao sức khỏe ở các cấp độ khác nhau (cấp vùng, cụm và quốc gia). Kết quả nghiên cứu này đã cung cấp các thông tin về lập kế hoạch quốc gia và xây dựng chính sách, cơ chế điều phối liên ngành để hỗ trợ nâng cao sức khỏe tại trường học, cách thành lập và sự tham gia của các mạng lưới quốc gia và quốc tế về YTTH và mức độ chia sẻ thông tin chiến lược này. Để mô hình y tế trường học thành công thì nhất thiết phải có sự tham gia của toàn xã hội, nhằm huy động các nguồn lực và vật lực cần thiết để thực hiện nâng cao sức khỏe trong các trường học (Ippolito-Shepherd, 2005).
Các nghiên cứu về mô hình y tế trường học Từ thế kỉ thứ XIX nhiều nước ở châu Âu đã có những chủ trương và phương pháp thực hiện y tế trường học. Các nhà nghiên cứu tập trung vào việc 7 thống kê xây dựng trường sở và bắt đầu đưa ra những tiêu chuẩn vệ sinh trong lĩnh vực này. Năm 1877 giáo sư Babinski đã cho xuất bản cuốn sách giáo khoa về vệ sinh học, giáo sư nhãn khoa Breslauer, giáo sư Herman Cohn từ năm 1864 đã nghiên cứu sự tăng nhanh bệnh cận thị học đường có liên quan đến chiếu sáng (Hermam Cohn, 1864). Đến thế kỉ XX đã có sự cộng tác chặt chẽ giữa bác sĩ học đường với các cơ sở phòng lao và đã đánh dấu một bước tiến bộ theo đường lối dự phòng.
Từ năm 1960 người ta đã phát hiện ra hiện tượng gia tốc phát triển cơ thể trẻ em ở lứa tuổi học đường. Những công trình nghiên cứu về sự mệt mỏi của trẻ em trong học tập đã được trình bày tại hội nghị quốc tế ở Tây Ban Nha và sự thống nhất tổ chức y tế học đường và vệ sinh học đường cũng được đề cập tới. Những công trình nghiên cứu về xây dựng trường sở, chiếu sáng và trang thiết bị đồ dùng học tập giảng dạy đặc biệt là những nghiên cứu về bàn ghế học sinh đã được chú trọng tới. Năm 1981 Vermer Kneist, viện vệ sinh xã hội Cộng Hòa Dân Chủ Đức đã công bố mô hình xây dựng y tế trường học với nhiệm vụ của thầy thuốc học đường và mối liên quan của các tổ chức xã hội.
Năm 1973 Edith Ockel nghiên cứu về gánh nặng của trẻ em trong học tập và chỉ rõ những em có hiệu suất học tập thấp có sự diễn biến về huyết áp và tần số mạnh khác với trẻ em trung bình và với trẻ em có hiệu suất học tập cao trong giờ học và đã đề xuất cải thiện chế độ học tập nhằm nâng cao hiệu suất trong học tập (Edith Ockel, 1973). Những nghiên cứu về sức chịu đựng về sinh lí của trẻ em trong luyện tập thể dục thể thao đã đưa ra những quy định chế độ luyện tập riêng cho những học sinh bị bệnh mãn tính như tim mạch, hô hấp.và giờ đây vệ sinh đã được đưa vào thành môn học chính khóa ở các trường phổ thông trên thế giới. Nhằm đẩy mạnh công tác y tế trường học, năm 1995, Tổ chức Y tế thế giới đã xây dựng sáng kiến y tế trường học toàn cầu (Global School Health Initiatives) nhằm tăng số lượng các “trường học nâng cao sức khỏe” (Health- 8 Promoting Schools). Sáng kiến này nhằm mục đích nâng cao sức khỏe cho học sinh, cán bộ trường học, gia đình và thành viên của cộng đồng thông qua trường học.
Mục tiêu của sáng kiến này là phối hợp sự nỗ lực của hai ngành y tế và giáo dục trong việc nâng cao sức khỏe cho học sinh dựa vào trường học. Các thành phần chính của mô hình bao gồm: khung chương trình, danh tiếng của trường học, môi trường thể chất, các chính sách và hoạt động trường học, các dịch vụ YTTH và quan hệ giữa trường học-gia đình-xã hội. Mô hình trường học nâng cao sức khỏe đã được chấp nhận trên toàn thế giới, đã và đang được áp dụng từ những năm 1990 ở nhiều nước trên thế giới như Úc (1997), Mỹ (2005), Hồng Kông (2001), Lào (2006)… (Tổ chức Y tế thế giới, 2002). Nghiên cứu của tác giả Lee A- Trung Quốc cho thấy cách tiếp cận mô hình nâng cao sức khỏe trường học thực sự có hiệu quả trong việc nâng cao sức khỏe, từ các hoạt động thể chất đến thói quen ăn uống và sức khỏe tinh thần.
Bên cạnh đó, các trường học tham gia mô hình này đã có những thay đổi đáng kể về văn hóa, tổ chức có lợi cho việc nâng cao sức khỏe. Nghiên cứu cắt ngang của tác giả Lee A và cộng sự so sánh tác động của mô hình trường học nâng cao sức khỏe cho thấy học sinh ở các trường có áp dụng mô hình này có kiến thức, thái độ và thực hành tốt hơn học sinh ở các trường không áp dụng mô hình này về vệ sinh cá nhân, kiến thức về sức khỏe và vệ sinh cũng như tiếp cận thông tin y tế. Các trường học nâng cao sức khỏe có chính sách y tế trường học tốt hơn, có sự tham gia của cộng đồng cao hơn và có môi trường trường học vệ sinh hơn các trường không áp dụng mô hình này. Nhìn chung, học sinh ở các trường học nâng cao sức khỏe có các hành vi sức khỏe tốt hơn, có kết quả học tập tốt hơn các trường khác (Lee A, 2007).
Bên cạnh đó, các mô hình YTTH khác cũng được xây dựng và phát triển gồm chương trình “y tế trường học phối hợp” tại Mỹ, mô hình phần thưởng trường học khỏe mạnh tại Phần Lan, mô hình phần thưởng trường học khỏe mạnh tại Hồng Kông năm 2001 và mạng lưới YTTH quốc tế tại Canada năm 2005. Nhìn chung, các mô hình này tập trung nhiều vào làm thế nào để thực hiện giáo dục và nâng cao sức khỏe trong trường học. 9 Nghiên cứu của các tác giả Wong, M. (2009) tại Trung Quốc trên 1408 học sinh, 891 bố mẹ và 91 cô giáo cho thấy các học sinh ở trường có tham gia mô hình YTTH có điểm số cao hơn các học sinh các trường không tham gia.
Không có sự khác biệt về điểm số giữa cha mẹ ở hai loại trường này. Các giáo viên ở trường có mô hình YTTH có điểm số cao hơn có ý nghĩa thống kê các giáo viên ở trường khác khi báo cáo về các chính sách y tế (p=0,023), Môi trường xã hội (p=0,049), Quan hệ Trường học-Cộng đồng (p=0,048), Xây dựng kỹ năng cá nhân (p=0,008) và Đối tác và các dịch vụ y tế (p=0,047). Các học sinh và giáo viên trường THCS có mô hình YTTH có điểm số về tính mềm dẻo (resilience) cao hơn học sinh và giáo viên các trường khác. Nhìn chung mô hình nâng cao sức khỏe trường học hay YTTH do Tổ chức y tế Thế giới đã đem lại những thay đổi tích cực cho học sinh và giáo viên và khái niệm về mô hình có hiệu quả trong việc xây dựng tính mềm dẻo (resilience) trong các bên liên quan của trường học (Martin C.
Mạng lưới YTTH quốc tế tại Canada do các nghiên cứu viên, các nhà lập chính sách và các tổ chức phi chính phủ sáng lập năm 2005 đã cung cấp, chia sẻ các thông tin về y tế trường học thông qua các trang điện tử, thông tin điện tử. Sáng kiến này được thành lập dựa trên vấn đề là không có cơ chế toàn cầu về phối hợp liên ngành trong YTTH. Ví dụ như các đơn vị giáo dục với các cơ sở y tế, các nghiên cứu viên với các cán bộ nhà nước… Hiện nay trang web điện tử của mạng lưới này đã thực hiện nhằm cung cấp kịp thời những thông tin về YTTH và chia sẻ định kỳ về các hoạt động này (www. Các nghiên cứu trong nước Trong những năm qua Đảng và nhà nước ta đã quan tâm đầu tư phát triển giáo dục, coi “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”; phát triển sự nghiệp giáo dục là trách nhiệm của toàn xã hội (Ban Chấp hành Trung ương, 2013).
Bên cạnh việc cải tiến các chương trình giáo dục, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, nhà nước đã đầu tư xây dựng cơ sở vật chất (trường lớp, bàn ghế…), cung cấp trang 10 thiết bị phù hợp theo lứa tuổi cho các trường học, công tác y tế trường học cũng được quan tâm chỉ đạo. Nhìn chung, công tác y tế trường học đã và đang được các ngành các cấp, phụ huynh học sinh và nhân dân quan tâm. Đặc biệt nhiều tổ chức quan tâm đã và đang có các chương trình dự án tài trợ nhằm nâng cao sức khỏe trường học. Theo thông tin của Bộ GD&ĐT, hiện đã có một số chương trình y tế triển khai trong các trường học.
Tuy nhiên, chưa có chương trình nào nghiên cứu và xây dựng mô hình YTTH thống nhất triển khai trong toàn quốc (Chu Văn Thăng, 2009).