Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS. Chương 2: Thực trạng quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Chương 3: Biện pháp quản lý xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường THCS huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ TRƢỜNG Ở CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài về văn hóa nhà trường, xây dựng văn hóa nhà trường và quản lý xây dựng văn hoá nhà trường Nói đến văn hóa nhà trường là nói đến một vấn đề rộng lớn, phức tạp, ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của nhà trường nên có rất nhiều hướng nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như: hướng nghiên cứu về các yếu tố cấu thành nên văn hoá nhà trường, hướng nghiên cứu về sự tác động của yếu tố văn hoá nhà trường đến hiệu quả giáo dục của nhà trường và vai trò của chủ thể quản lý tới xây dựng văn hoá nhà trường, hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới xây dựng văn hoá nhà trường, hướng nghiên cứu về giải pháp phát triển văn hoá nhà trường … Điển hình cho mỗi hướng nghiên cứu có thể kể đến đó là: Tác giả Edgar H. Schein, khi nghiên cứu văn hóa nhà trường đã cho rằng văn hóa nhà trường gồm 3 thành tố cấu thành. Đó là: a) Những quá trình và cấu trúc hữu hình ; b) Hệ thống giá trị được tuyên bố; 3) Những quan niệm chung.
Ba thành tố này nằm trong mối quan hệ hữu cơ, tạo nên văn hóa nhà trường như một tổng thể. Nói cách khác, văn hóa nhà trường theo tác giả Edgar H. Schein gồm hai thành tố cơ bản: Thành tố vật chất và thành tố tinh thần. Schein được coi là một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về văn hóa tổ chức.
Tác giả này đã đưa ra khái niệm văn hóa tổ chức được giới khoa học thừa nhận. Đó là: Văn hóa tổ chức là một tập hợp của những nguyên tắc cơ bản được công nhận là đúng mà một tập thể cùng chia sẻ, những nguyên tắc ấy được vận dụng để giải quyết những vấn đề nảy sinh trong tổ chức khi cần phải thích nghi với những biến đổi bên ngoài cũng như để tạo ra sự gắn kết và hội nhập trong nội bộ tổ chức ấy. Đó là những nguyên tắc đã tỏ ra có hiệu quả tốt, đủ để mọi người công nhận giá trị của nó, và do vậy, cần được truyền đạt, huấn luyện cho những nhân viên mới, để họ nhận thức, suy nghĩ và hành động phù hợp với những nguyên tắc ấy khi giải quyết công việc [52]. (1989), khi nghiên cứu về văn hóa tổ chức lại nhấn mạnh đến khía cạnh lãnh đạo tổ chức quan tâm đến việc để trao quyền cho nhân viên và tăng cường hiệu quả của tổ chức.
Khi những nhân viên được trao những quyền phù hợp thì họ phấn khởi và tích cực làm việc. Họ sẽ cho rằng mình được lãnh đạo tin tưởng. Điều này làm cho các nhân viên cố gắng hơn, nỗ lực hơn để làm việc và những sự cố gắng của nhân viên sẽ đem lại hiệu quả cao trong công tác giáo dục và đào tạo của nhà 7 trường [46]. (2003), đã nghiên cứu về sự tác động của chủ thể quản lý tới văn hoá nhà trường.
Chủ thể quản lý là người quyết định văn hoá nhà trường. Do vậy, nếu người lãnh đạo biết xây dựng văn hóa nhà trường và biết sử dụng văn hóa nhà trường để định hướng cho hoạt động học tập của học sinh thì học sinh sẽ có kết quả học tập tốt hơn. Kết quả nghiên cứu của tác giả còn cho thấy, sự tác động của người lãnh đạo nhà trường đến kết quả học tập của học sinh là rất lớn [55]. Nghiên cứu của Sarason, S.
(1996), tác giả đã cho rằng các giải pháp phát triển văn hóa của nhà trường đóng vai trò quan trọng trong đổi mới và phát triển của nhà trường. Kết quả nghiên cứu của tác giả về vấn đề này cũng cho thấy, chủ thể quản lý nhà trường cần phải có những giải pháp cụ thể để phát triển văn hoá trường mình theo đúng mục tiêu đã xác định. Các giải pháp này phải có tính khả thi cao dựa trên việc xác định được chiến lược phát triển của nhà trường, mô hình văn hoá nhà trường mong muốn hướng tới,… [51]. Nền giáo dục nhiều quốc gia rất phát triển, gắn liền với sự phát triển đó điều không thể thiếu là văn hóa nhà trường, nổi bật nhất ở Đông Nam Á là Singapore có nền giáo dục được xem là toàn diện và phát triển nhất.
Đáng lưu ý là Singapore chú trọng xây dựng văn hóa nhà trường. Bất kỳ trường học nào cũng đều có logo, biểu tượng, khẩu hiệu hành động rõ ràng. Ngay cả nghi thức, trang phục của giáo viên và học sinh đều được quan tâm thỏa đáng. Điểm cốt lõi trong định hình xây dựng nhà trường văn hóa của Singapore là hợp tác, xây dựng nhà trường thành tổ chức học tập.
Ngoài những kiến thức chuyên môn chính khóa, nhà trường còn tổ chức rất nhiều các buổi ngoại khóa bổ ích, lành mạnh, tạo bầu không khí tập thể vui tươi, thoải mái, đoàn kết, thân thiện, hợp tác cho các học sinh và giáo viên có điều kiện gặp gỡ giao lưu [46]. Một hệ thống giáo dục phát triển bậc nhất trên thế giới đó là quốc gia Phần Lan. Phần Lan tạo thành cấu trúc văn hóa nhà trường bởi các yếu tố: Học sinh được tạo điều kiện học tập thoải mái, cởi mở, học ít hiểu nhiều, không phải cật lực với núi kiến thức hàn lâm dễ bị tụt lại phía sau. Yếu tố cấu thành thứ hai là mối quan hệ chặt chẽ giữa gia đình và nhà trường.
Phụ huynh đóng vai trò ấn tượng trong văn hóa nhà trường Phần Lan. Yếu tố thứ ba là giáo viên được đánh giá cao, tiêu chuẩn giảng dạy cao. Thành công của giáo dục Phần Lan là do yếu tố văn hóa nhà trường [48]. Rõ ràng vấn đề văn hóa nhà trường là yếu tố quan trọng giúp nền giáo dục của mỗi quốc gia thành công, tạo nên thương hiệu của nhà trường.
Những nghiên cứu ở Việt Nam về văn hóa nhà trường và quản lý xây dựng văn hoá nhà trường * Nghiên cứu văn hóa nhà trường: Ở Việt Nam, rất nhiều tác giả, nhà nghiên cứu đề cập đến vấn đề văn hóa nhà trường, có thể kể đến như Phạm Minh Hạc (1994), Nguyễn Trường Lưu (1998), Thái Duy Tuyên (2009), Vũ Dũng (2009) đã đề cập đến văn hóa nhà trường ở các góc độ khác nhau, tác giả thì cho rằng VHNT bao gồm chủ thể là giảng viên, sinh viên, cán bộ công nhân viên; khách thể là hệ thống các giá trị văn hóa, các hình thức vận động văn hóa, cảnh quan văn hóa [9].Tựu trung lại văn hoá nhà trường liên quan đến hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt động đào tạo trong nhà trường, là lối sống văn minh trong trường học … [10]. Tác giả Phạm Minh Hạc (2009) phân tích việc xây dựng văn hóa học đường ở Việt Nam hiện nay: Chú ý đến điều kiện học tập, cơ sở vật chất của nhà trường. Cơ sở vật chất của các trường còn nhiều khó khăn (trường lớp, sách giáo khoa). Để xây dựng văn hóa học đường cần chú ý đến xây dựng cơ sở vật chất của nhà trường ;Xây dựng môi trường giáo dục trong nhà trường – một môi trường giáo dục thân thiện gồm 6 nội dung: Kỷ cương, trung thực, khách quan, công bằng, tình thương, khuyến khích sáng tạo, hiệu quả; Xây dựng văn hóa ứng xử, văn hóa giao tiếp trong nhà trường.
Đó là cách ứng xử văn minh, thân thiện, biết tôn trọng, quan tâm đến người khác [15]. Từ năm 2008 đến 2010 theo sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Học viện Quản lý giáo dục Việt Nam đã hợp tác với Học Viện Giáo dục Singapore tổ chức chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường phổ thông theo hình thức liên kết Việt Nam- Singapore giai đoạn 2008- 2010. Nội dung chương trình có 7 chuyên đề, trong đó có chuyên đề 3 “Văn hóa nhà trường” được rất nhiều nhà Lãnh đạo đánh giá cao về tầm quan trọng của VHNT và được coi là một trong những yếu tố hàng đầu làm nên sự thành công trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường. [20] Tác giả Trần Quốc Thành (2009) đã phân tích về một số biểu hiện của văn hóa học đường.
Theo tác giả, văn hóa học đường gồm 2 phần lớn: Phần nổi là định hướng phát triển của nhà trường, mục tiêu phát triển, các giá trị mà nhà trường theo đuổi, khung cảnh của nhà trường (nhà, phòng học, phòng làm việc, cơ sơ vật chất, biểu trưng của nhà trường). Phần chìm của văn hóa học đường gồm các trạng thái tâm lý của các cá nhân, bầu không khí tâm lý của nhà trường, thương hiệu của nhà trường, sự thừa nhận các giá trị của nhà trường [41]. Tác giả Phạm Thị Minh Hạnh (2009) đã phân tích bản chất của văn hóa học đường là hình thành một môi trường giáo dục mà mỗi thành viên có điều kiện phát triển tốt nhất. Các yếu tố cấu thành VHNT gồm: Kế hoạch, chiến lược phát triển của 9 nhà trường (tầm nhìn, sứ mệnh, hệ thống giá trị, mục tiêu, định hướng phát triển); Hoạt động quản lý nhà trường, ảnh hưởng của các cấp lãnh đạo đến các thành viên; Các chính sách khuyến khích các hoạt động của nhà trường; Bầu không khí tâm lý, cách thức ứng xử trong nhà trường; Khung cảnh của nhà trường; Xây dựng thương hiệu của nhà trường,…[16].
Một số tác giả khác cũng đã đề cập đến VHNT như: Phạm Quang Huân: “Văn hóa tổ chức – hình thái cốt lõi của VHNT”; Nguyễn Thị Kim Ngân: “Văn hóa giao tiếp trong nhà trường”. Nhân kỷ niệm 35 năm thành lập ngành sư phạm, ngày 8/10/1981, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã yêu cầu mỗi thầy cô giáo phải trả lời cho được các câu hỏi: “Dạy cái gì? Dạy để làm gì? Nhà trường phải coi trọng giáo dục toàn diện cho học sinh, cả đức dục và trí dục, thể dục và mỹ dục. Phải làm và làm tốt giáo dục đạo đức cách mạng. Phải xây dựng trường ra trường, lớp ra lớp, thầy ra thầy, trò ra trò, dạy ra dạy, học ra học”.
Từ sau năm 1981, mô hình này được triển khai trong toàn ngành GD-ĐT. Các nhà trường trong cả nước đã tích cực vận dụng, xây dựng từng bước hoàn thiện các thành tố của môi trường GD này, góp phần bảo đảm chất lượng GD trong các nhà trường.