Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÂY DỰNG TRƯỜNG MẦM NON ĐẠT CHUẨN QUỐC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Hiện nay, vấn đề quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia cũng đã đang được nhận sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước trong lĩnh vực, đặc biệt là trong các bài luận văn thạc sĩ. Sau đây là một số nghiên cứu: Phan Hồ Quỳnh Trang (2012) trong nghiên cứu về “Biện pháp xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng” đã nghiên cứu các vấn đề lý luận, thực trạng và đưa ra một số biện pháp để xây dựng trường mần non đạt chuẩn quốc gia. Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra (1) Các tiêu chí, phương thức để xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; (2) Thực trạng công tác xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn huyện Hòa Vang, TP Đà nẵng đã nhận được sự quan tâm; có kế hoạch xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; có sự đầu tư nâng cao chất lượng về giáo viên và nâng cao cơ sở vật chất; có sự phối hợp giữa nhiều nhóm đối tượng.
Tuy nhiên còn tồn tại khó khăn về quỹ đất; kế hoạch xây dựng chưa thực sự khả thi; một số trường còn chưa đảm bảo được các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất và trình độ đào tạo của đội ngũ giáo viên; (3) Đưa ra giải pháp về các mặt: Nâng cao nhận thức; tăng cường công tác tổ chức và quản lý nhà trường; phát triển đội ngũ giáo viên; đảm bảo cơ sở vật chất cho việc dạy học. Nghiên cứu được với một địa phương cụ thể và có giá trị, phù hợp với đặc điểm của địa phương. Phạm Thị Loan (2004) nghiên cứu về “Những biện pháp quản lý nhằm xây dựng trường mầm non thành thị Hải Phòng đạt chuẩn quốc gia trong giai đoạn hiện nay” đã đưa ra các nội dung liên quan đến quản lý các hoạt động để xây dựng trường mầm non tại thành thị của Hải Phòng; đồng thời dựa trên thực trạng về văn hóa xã hội, tình hình phát triển giáo dục mầm non, mức độ đạt chuẩn quốc gia của các trường mầm non trên địa bản thành thị Hải Phòng tác giả đã đưa ra 6 biện pháp để quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn thành thị bao gồm: Tuyên truyền nâng cao nhận thức; phối hợp giữa ngành giáo dục và các cơ quan liên quan; lập kế hoạch thực hiện xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia; xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý cùng giáo viên; cơ sở vật chất; và biện pháp đảm bảo tỷ lệ chuyên cần của trẻ. Đề tài cũng đi theo xu hướng về việc xem xét đặc điểm của địa phương để đưa ra phương án nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động quản lý xây dựng trường mầm non tại một địa phương cụ thể.
Bùi Thị Hồng Thúy (2015) trong nghiên cứu về “Biện pháp công tác huy động cộng đồng ở các trường mầm non trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi” đã đề cập đến một trong các vấn đề cần xem xét tại các trường mầm non để đạt được chuẩn quốc gia đó là vấn đề huy động cộng đồng. Hoạt động huy động cộng đồng sẽ góp sức vào việc 5 nâng cao nhận thức của các nhóm đối tượng quan trọng là nhà trường – gia đình – xã hội và đây chính là sợi dây liên kết các trường học cần có để đạt được tiêu chuẩn về trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Tại nghiên cứu có chỉ ra hiện tại chỉ có 32,61% người tham gia khảo sát cho rằng mối quan hệ giữa nhà trường – gia đình – xã hội là ít quan trong, từ đó thấy được đa số người dân đã có nhận thức rõ ràng về mối quan hệ này, và nó chính là cơ sở để thực hiện quản lý xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trở nên dễ dàng hơn. Nhìn chung, nghiên cứu công tác quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục ở các nhà trường nói chung và trường mầm non nói riêng đã được các cấp quản lý giáo dục, các nhà nghiên cứu quan tâm.
Tuy nhiên trên thực tế, còn ít công trình nghiên cứu về quản lý xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia. Đặc biệt, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về biện pháp xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn các tỉnh miền núi Quảng Ngãi. Vì vậy, đề xuất các biện pháp xây dựng trường mầm non đạt chuẩn quốc gia trên địa bàn các tỉnh miền núi Quảng Ngãi là cấp thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1.
Quản lý Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau. Nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định. Quản lý là biết được chính sách điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. Sau này ông Lerence Chủ tịch Hiệp hội các nhà kinh doanh Mỹ đã khái quát quan điểm của F.
Taylor và cho rằng: Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình (Taylor, 1964) (31) Cùng thời với F. Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H. Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó. “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra” (Fayol, 1916) (23) Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: “Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm.
Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá nhân ít nhất. Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học” (Harold Koontz, 1995) (27) Theo Paul Hersey và KenBlan Chard (1982) Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức”. (29) “Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó” (Dũng & Lan, 2013) (22) “Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình quản lý xã hội, hành vi và hành động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan”. Theo Nguyễn Quốc Chí và Đặng Thị Mỹ Lộc (2003): “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức”.
(20) Cho dù cách tiếp cận nào thì tóm lại bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, kiểm tra) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt mục tiêu đã đề ra. Quản lý bao gồm các hoạt động thiết lập chiến lược của một tổ chức và điều phối các nỗ lực của nhân viên (hoặc tình nguyện viên) để hoàn thành các mục tiêu của mình thông qua việc áp dụng các nguồn lực sẵn có, như tài chính, tự nhiên, công nghệ và nhân lực. Quản lý giáo dục Giáo dục học là khoa học về lí luận và thực tiễn nhằm nghiên cứu những vấn đề cơ bản như giáo dục, giáo dưỡng, dạy học, … (Đinh Văn Vang, 2009). Quản lý giáo dục là tổng thể các hoạt động tổ chức, quản lý, giám sát và đánh giá các hoạt động giáo dục tại nhà trường.
Hoạt động quản lý giáo dục sẽ thể hiện ở việc tổ chức, sắp xếp và điều hành một cách có hiệu quả hoạt động của các phòng ban, đơn vị trong trường bao gồm: Quản lý đào tạo, quản lý nhân lực, cơ sở vật chất, quản lý hành chính…Qua đó, giúp nhà trường đạt được hai mục tiêu là chất lượng giáo dục và hiệu quả kinh tế ở mức cao nhất. Quản lý giáo dục là một bộ phận của quản lý xã hội. Đó là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng. Hiểu theo nghĩa tổng quát: Quản lý giáo dục là điều hành phối hợp các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo - giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội.
Quản lý giáo dục là quản lý việc đào tạo con người, hình thành và hoàn thiện nhân cách, tái sản xuất nguồn lực con người. Đối tượng quản lý giáo dục là những con người thực hiện hoặc nhận sự giáo dục đào tạo. Vì không có gì phức tạp bằng con người cho nên quản lý giáo dục, quản lý việc giáo dục và đào tạo 7 con người là loại khó khăn nhất, phức tạp nhất đòi hỏi chủ thể quản lỹ phải có những năng lực, phẩm chất tương xứng với công việc. Quản lý chất lượng giáo dục Trong giáo dục, đảm bảo chất lượng giáo dục chính là quản lý quá trình đào tạo ở các cấp học, bậc học, nhằm tạo ra nguồn lực lao động thích hợp và đáp ứng yêu cầu sử dụng.
Sản phẩm của giáo dục tạo ra chính là nguồn nhân lực, chính vì vậy quản trị chất lượng giáo dục là hoạt động kiểm soát cả quá trình để đảm bảo sản phẩm đầu ra đáp ứng yêu cầu xã hội. Theo Ths Phạm Quang Huân (2009) Quan niệm về chất lượng càng cụ thể bao nhiêu càng tạo thuận lợi cho quá trình “thực thi” chất lượng bấy nhiêu. Thông thường, nhân cách người học sinh luôn được xem là sản phẩm của quá trình đào tạo. Quan niệm như vậy hoàn toàn đúng đắn nhưng rất cần được nhận thức đầy đủ và cụ thể hơn.
(28) Về khái niệm “sản phẩm”?