CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC MẦM NON 1. Những nghiên cứu điển hình về xã hội hóa giáo dục và xã hội hóa giáo dục mầm non 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục * Trên thế giới Xã hội hóa giáo dục không phải chủ đề mới, nhất là với các nước phát triển, công tác giáo dục và xã hội hóa giáo dục là vấn đề sớm được Chính phủ nhiều nước trên thề giới quan tâm. Theo Lương Thị Việt Hà, từ những năm khoảng ba thập niên cuối thế kỷ XX, đặc biệt những năm đầu thế kỷ XXI, đa số các nước phát triển như Anh, Đức, Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Ôxtrâylia, Malaysia, Singapore, Hàn Quốc.
đều tiến hành nhận thức lại vai trò, sứ mệnh của giáo dục, coi đó là nền tảng của mọi sự phát triển xã hội; đồng thời, rất nhiều chương trình cải cách giáo dục được thực hiện. Khuynh hướng cải cách giáo dục là tập trung thu hút và tăng cường sự tham gia của các LLXH, gia đình, các tổ chức trong và ngoài nước cùng với nhà nước tham gia vào phát triển GD [23, tr. Năm 1987, trong cuốn “Cha mẹ và cộng đồng”, hai tác giả Tangri, S. và Moles đã nghiên cứu và nhận thấy: Khi cha mẹ tham gia vào quá trình học tập của con cái như trong vai trò một trợ lý hay tình nguyện viên thì sẽ tác động rất tích cực đến thành tích, hành vi và thái độ của học sinh [48].
Trong một nghiên cứu về “Nhà trường dựa vào gia đình và cho kết quả”, Walberg, H. J và cộng sự đã tiến hành khảo sát 41 lớp học (từ lớp 1 đến lớp 6) tại Chicago (Hoa Kỳ) và nhận thấy: cùng trong một lớp học, học sinh nào có sự tham gia của bố mẹ vào quá trình học tập sẽ đạt kết quả tốt hơn so với những học sinh không có bố mẹ tham gia. Đây cũng là kết quả 7 mà Comer, J thu được khi tiến hành khảo sát các trường học tại Connecticut và công bố trong cuốn "Sự tham gia của phụ huynh trong các trường học” [59, tr. Chủ đề tương tự cũng được công bố ở rất nhiều công trình nghiên cứu khác: sự tham gia của cộng đồng và phát triển mô hình 13 cộng đồng tham gia vào GD ở các nước Jordan, Afghanistan, Iraq, Liberia, Uganda và vùng lãnh thổ Palestine, được Laura Brannelly và Joan Sullivan-Owomoyela trong cuốn sách “Thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng đóng góp cho giáo dục trong các điều kiện xung đột”[37]; hai tác giả Tác giả Anne Henderson và Karen Mapp đã tổng hợp kết quả nghiên cứu của hơn 50 công trình được công bố từ năm 1995 để biên dịch cuốn sách: “Minh chứng mới về những tác động của nhà trường, gia đình và cộng đồng đến kết quả học tập của HS”; Berger trong cuốn “Cha mẹ là các đối tác trong giáo dục: Gia đình và nhà trường cùng nhau tham gia [4]; Horn và West Horn trong những nghiên cứu “Hồ sơ về cha mẹ học sinh lớp 8: Báo cáo về nghiên cứu giáo dục quốc gia năm 1988”; Cotton Kathleen với cuốn “Mối quan hệ trong nhà trường là những mối quan tâm lớn nhất”; Luận án của Cynthia V.Crites “Sự tham gia của CMHS và cộng đồng: một nghiên cứu điển hình”; Luận án của Marie DeLuci: “Nghiên cứu điển hình về sự tham gia của xã hội vào các trường tiểu học ở ba trường của Ethiopia”.
Tất cả đều đưa đến nhận định chung, đó là tác động tích cực từ các yếu tố xã hội đến thành tích học tập của học sinh. Epstein và đồng nghiệp khẳng định rằng: “các vấn đề về thành tích giáo dục và kết quả học tập của HS đều phụ thuộc vào các yếu tố trong nhà trường và của CMTE”. Ở Hàn Quốc, theo nghiên cứu của Trần Anh Phương: mục tiêu chính của cải cách giáo dục hiện nay ở Hàn Quốc là nhằm xây dựng một nền giáo dục mở, tạo cơ hội cho mọi người được học tập suốt đời để họ có thể trở thành những con người mới có đủ tri thức, năng lực đáp ứng được những đòi hỏi của xã hội thông tin và toàn cầu hoá. Để đạt được mục tiêu trên, Hàn 8 Quốc đã xác định trách nhiệm cải cách, nâng cao chất lượng giáo dục không chỉ là trách nhiệm của riêng Bộ Giáo dục và Phát triển nhân lực mà là của cả bộ máy chính phủ, là nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi gia đình, mỗi công dân.
Hoạt động cải cách giáo dục được thực hiện sâu rộng, thu hút sự quan tâm của nhiều tổ chức và cá nhân. Có thể nói, cuộc cải cách giáo dục của Hàn Quốc là cuộc cải cách toàn diện, năng động, rất triệt để, có quy mô lớn và được xã hội hóa cao nhất so với các cuộc cải cách giáo dục trước đây [17]. Ở Việt Nam công tác xã hội hóa giáo dục cũng được Đảng, nhà nước quan tâm và cũng là đề tài nghiên cứu của các nhà giáo dục cũng như các nhà khoa học. Có thể kể đến một số công trình sau: Theo nghiên cứu của Bùi Tiến Hanh trong bài viết“Phát triển giáo dục ngoài công lập - thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục” [21] thì phát triển giáo dục ngoài công lập (bán công, dân lập, tư thục) là biện pháp nhằm đa dạng hóa các loại hình cơ sở giáo dục và sự phát triển giáo dục.
Cuốn sách “Xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam hiện nay một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Phạm Thị Thu Hương với kết cấu 3 chương, nội dung sách tập trung trình bày một số nội dung chính sau: Thứ nhất, luận giải làm rõ một số vấn đề lý luận về xã hội hóa giáo dục như: quan niệm về xã hội hóa giáo dục, nội dung xã hội hóa giáo dục và tính tất yếu phải thực hiện xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam; Thứ hai, phân tích thực trạng và luận giải những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam trong thời gian qua; Thứ ba, xác định phương hướng, đưa ra một số giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả xã hội hóa giáo dục ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích cho đông đảo bạn đọc quan tâm đến vấn đề giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện nay [31]. Nội dung cuốn sách “Chính sách xã hội hoá giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Nguyễn Ngọc Toàn đã giới thiệu một số vấn đề lý luận về chính sách xã hội hoá giáo dục và y tế ở Việt 9 Nam hiện nay. Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách xã hội hoá giáo dục và y tế ở Việt Nam hiện nay [49].
Có thể kể thêm một số luận văn, chuyên luận khác như: “Giải pháp quản lý công tác xã hội hoá giáo dục nghề nghiệp ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Huỳnh Tiểu Phụng; “Một số vấn đề lí luận về quản lí hoạt động tham gia xã hội hoá giáo dục của trường trung học phổ thông Việt Nam”, của Lương Thị Việt Hà (Tạp chí Giáo dục, 2013); Phạm Thị Thu Hương (2017) với “Xã hội hoá giáo dục ở Việt Nam - Một số vấn đề đặt ra cần giải quyết trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Cộng sản; Nguyễn Ngọc Hà (2015) tìm hiểu “Xã hội hoá giáo dục và y tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam; Tạ Thị Bích Ngọc (2015) khẳng định: “Xã hội hoá giáo dục góp phần xây dựng xã hội học tập”, Tạp chí Khoa học Xã hội Việt Nam, Nguyễn Thị Tố Nga (2014) đề ra những “Biện pháp quản lí xã hội hoá giáo dục tiểu học ở quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội”, Tạp chí Giáo dục. Qua các công trình nghiên cứu trên, ta thấy hầu hết các nước phát triển kinh tế thị trường đều có một nền giáo dục đa dạng và mở với các loại hình trường học khác nhau, sử dụng đa dạng các biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục. Tìm hiểu cách làm giáo dục ở nhiều nước cho thấy sự tham gia của cộng đồng vào giáo dục là phổ biến, thể hiện được nội hàm của xã hội hoá giáo dục. Tổng quan các nghiên cứu về xã hội hóa giáo dục mầm non Trên thế giới Đối với Nhật Bản, hệ thống giáo dục được chuẩn hóa và thống nhất trên cả nước với đa số là các trường công lập.
Nhưng cũng giống như Malaysia, Giáo dục mầm non (dành cho trẻ từ 3 - 5 tuổi) là cấp học không bắt buộc. Tuy nhiên, Chính phủ Nhật Bản khuyến khích tăng cường mở rộng và phát triển nhà trẻ, mẫu giáo theo hướng xã hội hóa nhằm tạo điều kiện cho các bà mẹ có thể yên tâm đi làm nên tỷ lệ trường mầm non tư thục chiếm khá 10 cao so với các cấp học khác (Trường mầm non tư khoảng 58%, trường tiểu học tư chỉ có khoảng 1%) [8]. Theo nhóm nghiên cứu của Trần Quốc Toản, hệ thống giáo dục của Mỹ rất đa dạng các loại hình trường lớp: Trường công, trường tư, trường bán công, các doanh nghiệp, công ty đại học, trường vì lợi nhuận và phi lợi nhuận, giáo dục gia đình…. Ở Mỹ, trong Giáo dục Mầm non không có các chương trình Giáo dục Mầm non công lập do Chính phủ quản lý.
Chính phủ Liên bang chỉ có các chính sách trợ cấp cho các gia đình có thu nhập thấp để họ tự tìm kiếm nơi gửi con phù hợp. Ở trong nước Chủ đề nghiên cứu về XHHGD mầm non đã được sự quan tâm ở nước ta trên cả hai phương diện lý luận và thực tiễn. Trong nghiên cứu “Biện pháp quản lý công tác xã hội hóa giáo dục mầm non tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”, tác giả Nguyễn Thị Bích Hạnh nhấn mạnh: Trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta, chính quy hoá các hình thức và tổ chức Giáo dục Mầm non bằng con đường bao cấp là không thể thực hiện được vì quá khả năng kinh tế. Mặt khác, nền kinh tế thị trường lại tăng thêm áp lực cho các gia đình nghèo, hạn chế cơ hội đến trường của trẻ em.
Vì vậy, XHHGD mầm non nhằm khai thác tối ưu tiềm năng của xã hội, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục mầm non, tạo tiền đề vững chắc cho sự phát triển nhân cách và chuẩn bị tốt các điều kiện cho trẻ vào giáo dục tiểu học.