phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, phần nội dung gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo ở trƣờng mầm non ngoài công lập. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non ngoài công lập thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo ở các trƣờng mầm non ngoài công lập thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. 4 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MẪU GIÁO Ở TRƢỜNG MẦM NON NGOÀI CÔNG LẬP 1.Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.
Các nghiên cứu ở ngoài nước Hiện nay, các quốc gia trên toàn thế giới luôn coi trọng phát triển GD nƣớc mình nói chung và GDMN nói riêng, nhằm đáp ứng ngày càng cao về nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực. Có nhiều công trình nghiên cứu về hoạt động vui chơi của trẻ ở trƣờng MN.Lexgháp ông đánh giá cao vai trò hƣớng dẫn, gợi ý của ngƣời lớn trong việc tổ chức vui chơi cho trẻ hơn là áp đặt trẻ chơi theo ý mình “ngƣời lớn hãy tạo điều kiện cho trẻ chơi, luôn luôn khuyến khích tính tự lập và óc sáng tạo của trẻ trong lúc chơi” [44]. Trong “Sổ tay chuyên môn hiệu phó chuyên môn”.Vaxiliepva đánh giá rất cao tầm quan trọng trong việc quản lý tổ chức HĐVC cho trẻ. Tác giả cho rằng muốn quản lý tốt hoạt động này thì ngƣời quản lý phải quan sát và phân tích đƣợc HĐVC của trẻ và nắm vững đặc điểm riêng biệt của các trò chơi thì mới bồi dƣỡng tốt cho GV về công tác tổ chức HĐVC “Quan sát và phân tích HĐVC.
Đó là một việc rất phức tạp. Điều này nó gắn liền với ý nghĩa của trò chơi trong sự phát triển nhân cách của trẻ MG, với vị trí của nó trong quá trình GD ở trƣờng MG, với những thể loại trò chơi khác nhau cùng những đặc điểm riêng biệt. Nếu ngƣời lãnh đạo nắm vững đặc điểm riêng biệt này thì việc phân tích HĐVC sẽ đƣợc sâu sắc hơn và có thể giúp đỡ các cô giáo MG một cách kịp thời” [45]. Crupxkaia thì trẻ có nhu cầu chơi vì trẻ mong muốn đƣợc hiểu biết về cuộc sống xung quanh, hơn nữa trẻ mẫu giáo thích bắt trƣớc ngƣời lớn và thích hoạt động tích cực với bạn bè cùng tuổi.
Chơi giúp trẻ thỏa mãn hai nhu cầu trên. V Plekhanốp cho rằng, lao động có trƣớc trò chơi và chơi chính là một hiện tƣợng xã hội, là phƣơng tiện chuẩn bị cho đứa trẻ làm quen với lao động của ngƣời lớn. Macarenco đã viết, trò chơi có một ý nghĩa rất quan trọng với trẻ. Ý nghĩa này chẳng khác gì ý nghĩa của sự hoạt động, sự làm việc và sự phục vụ đối với ngƣời lớn.
Đứa trẻ thể hiện nhƣ thế nào qua trò chơi thì sau này trong phần lớn trƣờng hợp nó cũng thể hiện nhƣ thế trong công việc. Ông còn nhấn mạnh ý nghĩa đặc biệt của trò chơi. Ông nhìn nhận trò chơi ở nhiều khía cạnh khác nhau và trƣớc tiên là trong việc chuẩn bị cho đứa trẻ bƣớc vào cuộc sống, vào hoạt động lao động. "Trò chơi có ý nghĩa lớn trong cuộc sống của đứa trẻ, tƣơng tự nhƣ hoạt động, công việc có ý nghĩa quan trọng 5 đối với ngƣời lớn.
Đứa trẻ qua trò chơi nhƣ thế nào nó sẽ 14 nhƣ thế trong công việc sau này khi lớn lên. Cho nên giáo dục một con ngƣời hoạt động tƣơng lai trƣớc hết phải đi từ trò chơi" [45]. Trong giai đoạn hiện nay, các tác giả nghiên cứu về trò chơi của trẻ mẫu giáo đều đi đến thống nhất, trò chơi là một hoạt động đặc thù quan trọng của đứa trẻ, một dạng hoạt động phù hợp hơn cả đối với trẻ, nó đảm nhận chức năng xã hội rộng lớn. Qua trò chơi, bộc lộ rõ khả năng tƣ duy, tƣởng tƣợng, tình cảm, tính tích cực, nhu cầu giao tiếp đang đƣợc phát triển ở đứa trẻ.
Hoạt động chơi chính là sự thực hành các kỹ năng xã hội của đứa trẻ, là cuộc sống thực của đứa trẻ trong xã hội đồng lứa. Vì vậy, vấn đề nghiên cứu, sử dụng trò chơi với mục đích giáo dục trẻ phát triển toàn diện là vấn đề cần thiết trong mọi giai đoạn lịch sử phát triển của sự nghiệp giáo dục mầm non. Các nghiên cứu ở trong nước Một trong những quan điểm cơ bản của GDMN xã hội chủ nghĩa Việt Nam quan niệm việc tổ chức HĐVC cho trẻ là vấn đề rất quan trọng trong việc phát triển tình cảm, đạo đức, thẫm mỹ, trí tuệ, lao động. “Giáo dục MG cần tổ chức mọi hoạt động của trẻ theo kiểu hoạt động của con ngƣời, hoàn thiện HĐVC (mà đặc trƣng ở lứa tuổi MG là trò chơi ĐVTCĐ), làm nảy sinh các yếu tố của hoạt động học tập và những tiền đề của hoạt động lao động” [7, tr.
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trƣờng MG” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng và có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hƣớng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phƣơng pháp khác nhau” và “GV phải nắm đƣợc tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phƣơng pháp hƣớng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ” [22]. Trong cuốn “tổ chức, hƣớng dẫn trẻ MG chơi” Nguyễn Thị Ánh Tuyết cùng hai tác giả Nguyễn Thị Hoà, Đinh Thị Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ “Tổ chức chơi cho trẻ là tổ chức cuộc sống của trẻ” [39, II, tr. Tài liệu bồi dƣỡng “CBQL và GVMN 2006” Bộ giáo dục cũng đã đề cập “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng GD và phát triển trẻ toàn diện. GV cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chƣơng trình GDMN” [9].
Đã có một số công trình nghiên cứu và nhiều bài viết về hoạt động vui chơi cho trẻ mầm non. Có thể kể đến các tác giả nhƣ: Nguyễn Thị Mỹ Trinh (2002) với bài “Hình thành kỹ năng tự tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề cho trẻ mẫu giáo lớn” đăng trên Tạp chí Giáo dục số 38; Trần Thị Ngọc Trâm (2002), bài “Hoạt động chơi - con đƣờng chủ yếu của 6 việc học ở trẻ mẫu giáo”, Tạp chí Giáo dục số 28; Nguyễn Thị Thanh Hà (2002), Luận án Tiến sĩ “Phƣơng pháp hƣớng dẫn trẻ 2-3 tuổi chơi trò chơi phản ánh sinh hoạt”; Tạ Ngọc Thanh - Nguyễn Thị Thƣ (2005), tài liệu “Phƣơng pháp đánh giá trẻ trong đổi mới giáo dục mầm non”; Trần Thị Ngọc Trâm - Lê Thu Hƣơng - Lê Thị Ánh Tuyết (2009), với tài liệu Hƣớng dẫn tổ chức thực hiện Chƣơng trình Giáo dục mầm non Mẫu giáo Lớn (5-6 tuổi); Nguyễn Thị Thƣ (2009), bài “Môi trƣờng hoạt động cho trẻ mầm non”… Cũng trong thời gian này, vấn đề MTGD trong đó có MTVC cũng đƣợc đƣa vào chƣơng trình đào tạo GVMN. Có thể kể đến các giáo trình của các tác giả Nguyễn thị Bích Liên (2006), “Tổ chức sinh hoạt của trẻ ở trƣờng MN”, Nguyễn Thị Thanh Hà (2006), “Tổ chức hoạt động vui chơi của trẻ ở trƣờng MN”, Đinh Văn Vang (2009), “Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ MN dành cho hệ Cao đẳng Sƣ phạm Mầm non”… cùng một số tài liệu bồi dƣỡng viết về hoạt động vui chơi, về Góc hoạt động của các tác giả khác nhƣ Trần Mai Lan Hƣơng, Lê Thị Thanh Nga… Vấn đề xây dựng hoạt động vui chơi, vấn đề hoạt động vui chơi cũng đã có vị trí nhất định trong các văn bản chỉ đạo của ngành học. Những vấn đề đƣợc các tác giả quan tâm và đề cập trong các công trình nêu trên là: Khái niệm về hoạt động vui chơi theo nghĩa rộng và theo nghĩa hẹp; Vai trò của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển của trẻ; Những yêu cầu cơ bản khi xây dựng môi trƣờng giáo dục nói chung và hoạt động vui chơi nói riêng, nguyên tắc và cách thức xây dựng hoạt động vui chơi của trẻ ở trƣờng MN.
Những tác giả trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề quản lý HĐVC và tổ chức HĐVC cho trẻ trong trƣờng MN theo hƣớng riêng của mình. Tuy nhiên, nghiên cứu quản lý HĐVC cho trẻ MG ở các trƣờng MN ngoài công lập trong thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau hiện nay chƣa có công trình nào thực hiện. Tiếp thu, kế thừa những thành tựu nghiên cứu trên, đề tài luận văn này sẽ đƣa ra thực trạng quản lý HĐVC cho trẻ MG ở các trƣờng MN ngoài công lập thành phố Cà Mau, tỉnh cà Mau và trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp có tính cấp thiết, tính khả thi phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phƣơng trong quản lý HĐVC cho trẻ MG ở các trƣờng MN ngoài công lập nhằm góp phần cùng nâng cao chất lƣợng GDMN thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đáp ứng yêu cầu đổi mới GD trong giai đoạn hiện nay. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quản lý Theo GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là sự tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lý (ngƣời quản lý) đến khách thể quản lý (ngƣời bị quản lý), 7 trong tổ chức - nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức". Cũng theo đó các tác giả còn xác định rõ hơn về hoạt động quản lý: "Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra" [17]. Hà Sĩ Hồ cho rằng: “QL là một quá trình tác động có định hƣớng, có tổ chức, lựa chọn trong số các tác động có thể dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tƣợng nhằm giữ cho sự vận hành của đối tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định [26]. Trong thời đại khoa học - kỹ thuật ngày nay, “Quản lý còn đƣợc xem là công nghệ – công nghệ điều hành, phối hợp, sử dụng các nguồn năng lực, vật lực, tài lực và thông tin của một tổ chức để đạt tới mục tiêu đề ra” [3] Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song đều thống nhất về vấn đề cốt lõi của khái niệm quản lý.
Đó là trả lời các câu hỏi: Ai QL? (chủ thể); QL ai, QL cái gì? (khách thể); QL nhƣ thế nào? (phƣơng thức); QL bằng cái gì? (công cụ); QL nhằm để làm gì? (mục tiêu).