CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ QUẢN LÝ VỐN VAY UỶ THÁC 1. Một số khái niệm liên quan 1. Quản lý Quản lý được định nghĩa theo nhiều cách: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, cơ hội của tổ chức để đạt được mục tiêu trong điều kiện biến động của môi trường. Quản lý là phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những cộng sự khác nhau trong cùng một tổ chức.
Quản lý là một quá trình phối hợp các nguồn lực một cách hiệu lực và hiệu quả nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức. Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có hiệu lực và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát các nguồn lực của tổ chức. Quản lý là quá trình làm việc với và thông qua những người khác để thực hiện các mục tiêu của tổ chức trong một môi trường luôn biến động. Quản lý là một hoạt động có tính chất phố biến, mọi nơi, mọi lúc, trong mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và liên quan đến mọi người.
Đó là một hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác làm một công việc để đạt được mục tiêu chung. Tóm lại: Khái niệm mà tác gỉa sử dụng trong luận văn này: Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát các nguồn lực và hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục đích của tổ chức với hiệu lực và hiệu quả cao một cách bền vững trong điều kiện môi trường luôn biến động. Hoạt động ủy thác Theo thông lệ quốc tế, hoạt động ủy thác (trust business) bản chất là hoạt động huy động vốn phi tiền gửi (non-deposit instruments) và ngày nay được biến thể thành nhiều hoạt động khác nhau như: quản lý tài sản, quản lý vốn. Theo Điều 5 106 Luật TCTD 2010, hoạt động ủy thác và hoạt động quản lý tài sản là khác nhau.
Do đó, khái niệm “hoạt động ủy thác” cần được quy định để phân biệt với các hoạt động khác, trong đó có hoạt động “quản lý tài sản”. "Hoạt động ủy thác" gồm 04 yếu tố: - Bên ủy thác giao vốn (bằng tiền) cho bên nhận ủy thác; - Sử dụng cho đối tượng thụ hưởng của uỷ thác; - Với mục đích, lợi ích hợp pháp do bên ủy thác chỉ định; - Trên cơ sở hợp đồng uỷ thác. Các hoạt động không đảm bảo có đủ 4 yếu tố này thì không được coi là “hoạt động ủy thác”; do đó Tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp không được thực hiện. Ủy thác cho vay "Uỷ thác cho vay" là việc bên uỷ thác giao vốn cho bên nhận uỷ thác thông qua hợp đồng uỷ thác cho vay để trực tiếp cho vay đến các đối tượng khách hàng, bên uỷ thác trả phí uỷ thác cho bên nhận uỷ thác.
Ủy thác cho vay là việc bên ủy thác giao vốn cho bên nhận ủy thác để thực hiện cho vay đối với khách hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan; bên ủy thác phải trả phí ủy thác cho vay cho tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng nước ngoài nhận ủy thác cho vay. Nhận ủy thác cho vay là việc bên nhận ủy thác nhận vốn của bên ủy thác để thực hiện cho vay đối với khách hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định của pháp luật có liên quan; bên nhận ủy thác cho vay được hưởng phí ủy thác cho vay do bên ủy thác trả (NHNN,2012). Quản lý vốn vay ủy thác của Hội LHPN Việc cho vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được thực hiện theo phương thức ủy thác cho các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị - xã hội theo hợp đồng ủy thác hoặc trực tiếp cho vay đến Người vay. Việc cho vay đối với hộ nghèo căn cứ vào kết quả bình xét của Tổ tiết kiệm và vay vốn.
Tổ tiết kiệm và vay vốn là tổ chức do các tổ chức chính trị - xã hội hoặc 6 cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập trên địa bàn hành chính của xã, được ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận bằng văn bản. Hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn do Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn. Tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. Vì vậy, quản lý vốn vay ủy thác của Hội LHPN được thực hiện theo hợp đồng ủy thác của Ngân hàng CSXH từ Trung ương đến địa phương nhằm bảo tồn nguồn vốn của Nhà nước và đảm bảo đến đúng đối tượng vay theo quy định của Chính phủ.
Nội dung ủy thác của Hội Liên hiệp Phụ nữ Theo Điều 5, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính Phủ: Việc cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện theo phương thức ủy thác cho các tổ chức tín dụng, tổ chức chính trị - xã hội theo hợp đồng ủy thác hoặc trực tiếp cho vay đến người vay. Việc cho vay đối với hộ nghèo căn cứ vào kết quả bình xét của Tổ tiết kiệm và vay vốn. Tổ tiết kiệm và vay vốn là tổ chức do các tổ chức chính trị - xã hội hoặc cộng đồng dân cư tự nguyện thành lập trên địa bàn hành chính của xã, được ủy ban nhân dân cấp xã chấp thuận bằng văn bản. Hoạt động của Tổ tiết kiệm và vay vốn do Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn.
Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Nam ủy thác cho Hội LHPN tỉnh thực hiện một số nội dung công việc trong quy trình cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác, cụ thể như sau: 1. Công tác tuyên truyền, vận động - Thực hiện tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về chính sách tín dụng ưu đãi và các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. 7 - Chỉ đạo Hội, đoàn thể cấp xã vận động việc thành lập Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV) theo đúng Quy chế về tổ chức và hoạt động của Tổ TK&VV ban hành theo Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 05/3/2013 của Hội đồng quản trị NHCSXH. - Vận động, đôn đốc Ban quản lý Tổ TK&VV tham dự đầy đủ các phiên giao dịch của NHCSXH; hướng dẫn tổ viên Tổ TK&VV thực hiện giao dịch với NHCSXH.
- Vận động tổ viên chấp hành Quy ước hoạt động của Tổ TK&VV, thực hành tiết kiệm; giúp đỡ nhau, cùng chia sẻ kinh nghiệm trong việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả góp phần nâng cao đời sống, thực hiện trả nợ, trả lãi đúng kỳ hạn đã cam kết với Ngân hàng. - Vận động, khuyến khích các tổ viên Tổ TK&VV tham gia các hoạt động khác của NHCSXH. - Tổ chức tập huấn hoặc phối hợp với NHCSXH tập huấn nghiệp vụ ủy thác cho cán bộ Hội, đoàn thể cấp dưới và Ban quản lý Tổ TK&VV. Kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ TK&VV, Ban Quản lý Tổ và tổ viên Tổ TK&VV - Chỉ đạo Hội, đoàn thể cấp xã giám sát toàn diện các hoạt động của Tổ TK&VV theo đúng Quy chế về tổ chức và hoạt động của Tổ TK&VV ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 05/3/2013 của Hội đồng quản trị NHCSXH.
Trong đó, các nội dung sau cần phải giám sát bằng phương thức trực tiếp tham gia họp và chỉ đạo trong các buổi họp Tổ TK&VV, cụ thể: Họp thành lập Tổ TK&VV. Họp bầu mới, thay đổi Ban quản lý Tổ TK&VV. Họp xây dựng quy ước hoạt động của Tổ TK&VV. Họp bình xét cho vay.
- Giám sát và đôn đốc Ban Quản lý Tổ thực hiện đúng các nhiệm vụ được ủy nhiệm theo Hợp đồng đã ký với NHCSXH. - Chỉ đạo Hội, đoàn thể cấp xã thực hiện kiểm tra việc sử dụng vốn vay của 100% 8 các món vay mới trong vòng 30 ngày kể từ ngày NHCSXH giải ngân cho hộ vay. - Đôn đốc Ban quản lý Tổ giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả, trả nợ, trả lãi, thực hiện tiết kiệm. của tổ viên.
- Chỉ đạo Hội, đoàn thể cấp xã giám sát các phiên giao dịch, các hoạt động giao dịch của NHCSXH tại xã; giám sát, bảo quản các nội dung công khai của NHCSXH tại điểm giao dịch; giám sát các hoạt động của NHCSXH tại hộ vay, Tổ TK&VV. - Chỉ đạo Hội, đoàn thể cấp xã thông báo kịp thời cho Ngân hàng nơi cho vay về các trường hợp sử dụng vốn vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chết, mất tích…) và rủi ro do nguyên nhân chủ quan (sử dụng vốn vay sai mục đích, người vay trốn, chây ỳ…) để có biện pháp xử lý thích hợp. Chỉ đạo Hội, đoàn thể cấp xã phối hợp với NHCSXH thực hiện các hoạt động - Nhận và thông báo kết quả phê duyệt Danh sách hộ gia đình được vay vốn cho Tổ TK&VV để Tổ thông báo đến từng hộ gia đình. - Phối hợp với NHCSXH và chính quyền địa phương xử lý các trường hợp nợ chây ỳ, nợ quá hạn, người vay bỏ đi khỏi nơi cư trú và hướng dẫn hộ vay lập hồ sơ đề nghị xử lý nợ rủi ro do nguyên nhân khách quan; tham gia Tổ đôn đốc thu hồi nợ khó đòi cấp xã (nếu có).
- Phối hợp với NHCSXH thực hiện đánh giá phân loại chất lượng hoạt động của Tổ TK&VV; thực hiện các giải pháp củng cố, kiện toàn hoạt động của các Tổ TK&VV. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý vốn vay ủy thác 1. Đối với đơn vị ủy thác Ngân hàng chính sách xã hội Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) được thành lập theo Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg ngày 04 tháng 10 năm 2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách khỏi NHNo&PTNT Việt Nam. Nhằm tách tín dụng chính sách ra khỏi tín dụng thương mại trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo.
9 NHCSXH được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.