Tổng quan nghiên cứu

Khu vực doanh nghiệp nhà nước giữ vai trò nòng cốt và là lực lượng vật chất xung kích trong việc duy trì ổn định kinh tế vĩ mô tại Việt Nam. Theo thống kê chính thức tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2017, cả nước có 2.486 doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động, chiếm tỷ lệ 0,4% tổng số lượng doanh nghiệp nhưng nắm giữ tới 9,5 triệu tỷ đồng nguồn vốn phục vụ sản xuất kinh doanh, tương đương 28,8% tổng nguồn vốn của toàn bộ khu vực doanh nghiệp trên toàn quốc. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn công vẫn đối mặt với nhiều rủi ro nghiêm trọng khi hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu bình quân năm 2017 của khối này chạm ngưỡng 4,1 lần, vượt xa trần an toàn 3,0 lần theo quy định của Luật số 69/2014/QH13.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu tự chủ kinh doanh theo cơ chế thị trường và nghĩa vụ bảo toàn nguồn vốn công dưới sự giám sát của Nhà nước. Mục tiêu cụ thể bao gồm hệ thống hóa các luận cứ lý luận pháp lý, phân tích thực trạng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và khảo sát dữ liệu thực thi giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2018 trên phạm vi toàn quốc. Luận văn đóng vai trò nền tảng khoa học giúp tối ưu hóa khung pháp lý nhằm kiểm soát hiệu quả quy mô tài sản lên tới 1,5 triệu tỷ đồng và 820.000 tỷ đồng vốn nhà nước tại 19 tập đoàn, tổng công ty trọng điểm, hạn chế tối đa nguy cơ thất thoát ngân sách trong thời kỳ tái cơ cấu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hai lý thuyết nền tảng trong khoa học pháp lý và quản trị công bao gồm: Lý thuyết người đại diện và Lý thuyết điều tiết của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Lý thuyết người đại diện làm sáng tỏ xung đột lợi ích tiềm tàng giữa Nhà nước và bộ máy điều hành doanh nghiệp khi quyền sở hữu bị phân tách khỏi quyền quản trị trực tiếp. Đồng thời, lý thuyết điều tiết giải thích tính tất yếu của việc ban hành hành lang pháp lý để bảo vệ lợi ích công cộng và khắc phục khuyết tật thị trường.

Hệ thống nghiên cứu xây dựng dựa trên bốn khái niệm pháp lý cốt lõi:

  • Vốn nhà nước tại doanh nghiệp: Được xác định theo khoản 8 Điều 3 Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp năm 2014, bao gồm vốn ngân sách cấp trực tiếp, vốn tiếp nhận, quỹ đầu tư phát triển và các nguồn vốn hợp pháp khác.
  • Doanh nghiệp nhà nước: Xác lập theo Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2014 với tiêu chí doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.
  • Bảo toàn và phát triển vốn: Nghĩa vụ tài chính bắt buộc theo Điều 35 Luật số 69/2014/QH13 nhằm bảo đảm giá trị vốn chủ sở hữu không bị suy giảm thông qua các công cụ trích lập dự phòng và hạch toán đúng chi phí.
  • Giám sát tài chính và cảnh báo sớm: Quy trình đánh giá mức độ an toàn tài chính theo Nghị định 87/2015/NĐ-CP nhằm phát hiện kịp thời các dấu hiệu mất cân đối dòng tiền và nguy cơ phá sản.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Sách trắng Doanh nghiệp năm 2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Báo cáo kết quả kiểm toán giai đoạn 2011-2016 của Kiểm toán Nhà nước và số liệu Tổng điều tra kinh tế năm 2017 do Tổng cục Thống kê công bố.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm toàn bộ 2.486 doanh nghiệp nhà nước đang hoạt động tại thời điểm cuối năm 2017, trong đó khảo sát chuyên sâu 1.204 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích đối với nhóm 19 tập đoàn và tổng công ty quy mô lớn trực thuộc Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhằm bảo đảm tính đại diện cao nhất về mặt giá trị tài sản.

Phương pháp phân tích chuẩn tắc luật học kết hợp với thống kê mô tả tài chính được lựa chọn vì tính chất đa ngành của đề tài. Cách tiếp cận này cho phép đối chiếu trực tiếp các quy định pháp luật hiện hành với các chỉ số tài chính thực tế như tỷ suất sinh lời trên tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tốc độ quay vòng vốn, từ đó nhận diện chính xác các kẽ hở pháp lý phát sinh trong dòng thời gian nghiên cứu từ năm 2011 đến năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu tài chính của khối doanh nghiệp nhà nước tồn tại rủi ro đòn bẩy nghiêm trọng. Dữ liệu năm 2017 ghi nhận hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp nhà nước ở mức 4,1 lần, cao gấp 1,64 lần so với mức trung bình 2,5 lần của toàn bộ khối doanh nghiệp cả nước. Tổng nợ phải trả của các doanh nghiệp nhà nước năm 2016 đạt 1.649 nghìn tỷ đồng, tăng 26% so với năm 2011, trong khi nợ phải thu tăng lên mức 384,31 nghìn tỷ đồng, tăng 29,6% trong cùng kỳ.

Thứ hai, tốc độ luân chuyển dòng vốn chậm và hiệu suất khai thác tài sản còn hạn chế. Chỉ số quay vòng vốn năm 2017 của khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ đạt 0,3 lần, chưa bằng 43% so với chỉ số quay vòng vốn trung bình 0,7 lần của toàn hệ thống doanh nghiệp Việt Nam. Chỉ số tỷ suất sinh lời trên tài sản của doanh nghiệp nhà nước đạt 2,2%, thấp hơn 24% so với mặt bằng chung toàn quốc là 2,9%. Ngược lại, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu đạt 11,4% và tỷ suất sinh lời trên doanh thu đạt 6,4%, cao hơn mức bình quân cả nước lần lượt là 11% và 27% nhờ vào lợi thế quy mô độc quyền và tiếp cận tín dụng ưu đãi.

Thứ ba, công tác quản lý tài sản cố định và tài nguyên đất đai bộc lộ nhiều sai phạm. Giai đoạn 2011-2016, công tác thanh tra và kiểm toán ghi nhận hàng loạt tập đoàn để phát sinh tình trạng sử dụng đất sai mục đích, tranh chấp và chưa hoàn tất hồ sơ pháp lý, gây lãng phí nguồn lực công quy mô lớn.

Thứ tư, vai trò đóng góp ngân sách duy trì ở mức vượt trội bất chấp sự sụt giảm về số lượng đơn vị. Năm 2016, thuế và các khoản nộp ngân sách bình quân của một doanh nghiệp nhà nước đạt 104 tỷ đồng, cao gấp 5,7 lần so với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18 tỷ đồng và gấp 104 lần so với doanh nghiệp tư nhân trong nước đạt 1 tỷ đồng, đóng góp tới 32,1% tổng thu ngân sách từ khối doanh nghiệp.

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân kỳ giữa tỷ suất sinh lời trên tài sản ở mức thấp nhưng tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu ở mức cao phản ánh rõ nét bản chất hoạt động của doanh nghiệp nhà nước. Khối này sở hữu khối tài sản khổng lồ nhưng năng lực quản trị vận hành chưa tương xứng, phần lớn lợi nhuận tạo ra dựa trên vị thế độc quyền ngành hàng thay vì cải tiến năng suất. Tình trạng này có thể được trình bày trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tỷ suất sinh lời trên tài sản và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, kết hợp bảng ma trận đối chiếu mức đòn bẩy nợ của doanh nghiệp nhà nước với các nhóm doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Nguyên nhân cốt lõi xuất phát từ sự chồng chéo chức năng giữa cơ quan chủ quản và đơn vị điều hành. Mô hình đại diện chủ sở hữu phân tán tại các Bộ ngành và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh giai đoạn trước năm 2018 làm mờ nhạt trách nhiệm giải trình cá nhân. Việc thành lập Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp theo Nghị định 131/2018/NĐ-CP đã bước đầu tách bạch chức năng quản lý hành chính khỏi quyền đại diện vốn, tạo tiền đề giải quyết các điểm nghẽn thể chế kéo dài.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Bộ Tài chính chủ trì phối hợp cùng các cơ quan hữu quan chuẩn hóa quy định phân cấp thẩm quyền đầu tư, thiết lập ngưỡng kiểm soát tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu đưa hệ số này từ 4,1 lần về dưới trần luật định 3,0 lần đối với toàn bộ các tập đoàn nhà nước trước năm 2022.

Thứ hai, kiện toàn mô hình quản lý tập trung tại Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Chính phủ chỉ đạo chuyển giao dứt điểm 100% quyền đại diện chủ sở hữu từ các Bộ chuyên ngành về Ủy ban, áp dụng hệ thống quản trị rủi ro số hóa nhằm giám sát biến động dòng tiền của danh mục tài sản 1,5 triệu tỷ đồng theo thời gian thực trước năm 2023.

Thứ ba, siết chặt quy trình thẩm định giá tài sản và quản lý đất đai trong thoái vốn ngoài ngành. Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng Hội đồng thành viên các doanh nghiệp thực hiện rà soát 100% hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng đất, bắt buộc đấu giá công khai qua sàn giao dịch chứng khoán nhằm bảo đảm thu hồi vốn đạt tỷ lệ vượt trên 100% giá trị sổ sách kế toán trong giai đoạn 2020-2025.

Thứ tư, đổi mới cơ chế đãi ngộ gắn liền với chỉ số hiệu quả công việc then chốt. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội ban hành biểu khung lương thưởng lũy tiến theo giá trị gia tăng của vốn nhà nước, gắn trách nhiệm của Chủ tịch Hội đồng thành viên với mục tiêu nâng chỉ số quay vòng vốn từ 0,3 lần lên tối thiểu 0,5 lần trong chu kỳ đánh giá 3 năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và ban soạn thảo chính sách: Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Kinh tế Trung ương sử dụng luận văn làm cơ sở lý luận và thực tiễn để rà soát, sửa đổi Luật số 69/2014/QH13 và Nghị định 91/2015/NĐ-CP.
  • Cơ quan đại diện chủ sở hữu vốn công: Cán bộ chuyên trách tại Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp và Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước tham khảo quy trình phân tích an toàn tài chính và giám sát thoái vốn ngoài ngành.
  • Lãnh đạo cấp cao tại các doanh nghiệp nhà nước: Hội đồng thành viên, Ban Tổng giám đốc và Kiểm soát viên tại các tập đoàn, tổng công ty ứng dụng luận văn để xây dựng quy chế tài chính nội bộ, tối ưu hóa cơ cấu vốn và quản trị nợ phải thu.
  • Giới nghiên cứu học thuật và giảng viên: Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Quản lý kinh tế và Tài chính công khai thác khung phân tích người đại diện cùng hệ thống số liệu thực chứng giai đoạn 2011-2018.

Câu hỏi thường gặp

Luật số 69/2014/QH13 quy định giới hạn hệ số nợ của doanh nghiệp nhà nước như thế nào? Khoản 3 Điều 23 Luật số 69/2014/QH13 quy định tổng số nợ phải trả bao gồm cả các khoản bảo lãnh cho công ty con không được vượt quá 3 lần vốn chủ sở hữu. Thực tế năm 2017, hệ số nợ trung bình của doanh nghiệp nhà nước đạt mức 4,1 lần, cho thấy tình trạng mất cân đối tài chính nghiêm trọng cần biện pháp chấn chỉnh khẩn cấp.

Tại sao chỉ số quay vòng vốn của doanh nghiệp nhà nước năm 2017 chỉ đạt 0,3 lần? Chỉ số 0,3 lần cho thấy tốc độ chu chuyển dòng vốn tại doanh nghiệp nhà nước chậm hơn 57% so với mức trung bình 0,7 lần của toàn quốc. Nguyên nhân chính do khối lượng vốn đọng lớn tại các dự án đầu tư dở dang, thủ tục thanh quyết lý tài sản phức tạp và cơ chế quản lý nợ phải thu lên tới 384,31 nghìn tỷ đồng chưa hiệu quả.

Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp nắm giữ quy mô tài sản bao nhiêu khi mới thành lập? Theo Nghị định 131/2018/NĐ-CP, Ủy ban tiếp nhận quyền đại diện chủ sở hữu tại 19 tập đoàn và tổng công ty lớn với tổng giá trị tài sản ước tính khoảng 1,5 triệu tỷ đồng và phần vốn nhà nước đạt trên 820.000 tỷ đồng, giải quyết tình trạng phân tán quyền lực tại các cơ quan bộ ngành.

Doanh nghiệp nhà nước thực hiện nghĩa vụ bảo toàn vốn thông qua các công cụ pháp lý nào? Doanh nghiệp thực hiện bảo toàn vốn theo Điều 35 Luật số 69/2014/QH13 thông qua trích lập quỹ dự phòng giảm giá hàng tồn kho, dự phòng nợ phải thu khó đòi, mua bảo hiểm tài sản và chuyển lỗ kinh doanh theo quy định tài chính. Mọi hành vi làm thất thoát vốn do lỗi chủ quan đều buộc cá nhân quản lý phải bồi thường thiệt hại.

Phương thức chuyển nhượng vốn đầu tư ngoài ngành của doanh nghiệp nhà nước được quy định ra sao? Pháp luật quy định việc thoái vốn phải ưu tiên đấu giá công khai trên sàn chứng khoán nếu đã niêm yết. Trường hợp doanh nghiệp chưa niêm yết, quy trình thoái vốn phải tiến hành qua ba bước tuần tự: đấu giá công khai, chào bán cạnh tranh và chuyển nhượng theo thỏa thuận nhằm bảo đảm nguyên tắc bảo toàn vốn ở mức cao nhất.

Kết luận

  • Doanh nghiệp nhà nước nắm giữ nguồn lực tài chính khổng lồ với 9,5 triệu tỷ đồng vốn sản xuất kinh doanh nhưng hiệu quả khai thác tài sản chưa tương xứng với tiềm năng.
  • Tỷ lệ đòn bẩy nợ bình quân 4,1 lần và vòng quay vốn 0,3 lần đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cơ cấu toàn diện hệ thống tài chính nội bộ.
  • Sự thành lập của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp tạo bước chuyển biến căn bản trong việc tách rời chức năng chủ sở hữu và chức năng hành chính công.
  • Việc hoàn thiện thể chế pháp lý, đặc biệt là sửa đổi Luật số 69/2014/QH13, là điều kiện tiên quyết để phòng ngừa thất thoát tài sản và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
  • Đóng góp khoa học then chốt của công trình là cung cấp hệ thống luận cứ lý luận và số liệu thực chứng giai đoạn 2011-2018 phục vụ xây dựng chính sách quản trị vốn công.

Kế hoạch hoàn thiện thể chế trong giai đoạn tiếp theo cần tập trung hoàn tất việc số hóa dữ liệu giám sát tài chính trước năm 2023 và đồng bộ hóa quy định thoái vốn đất đai trước năm 2025. Các nhà nghiên cứu và nhà quản lý thực tiễn quan tâm có thể khai thác toàn bộ hệ thống phân tích định lượng chi tiết trong tài liệu luận văn để phát triển các mô hình đánh giá an toàn tài chính chuyên sâu cho từng ngành nghề đặc thù.