ĐẶT VẤN ĐỀ Vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (Drug Related Problems - DRPs) là những tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc có thể gây hại hoặc tiềm ẩn mối nguy hại cho sức khỏe người bệnh [1], [2]. DRPs có thể cản trở kết quả điều trị tối ưu của bệnh nhân, tăng tỉ lệ tái khám, tái nhập viện hay phải sử dụng thêm thuốc để xử trí các hậu quả của DRP và làm tăng đáng kể chi phí điều trị [3], [4], [5], [6]. Thực hiện triển khai các hoạt động dược lâm sàng theo Nghị định 131/NĐ-TT, ngày 2/11/2020, Bộ Y tế đã ra Quyết định số 3547/QĐ-BYT về ban hành mẫu phiếu phân tích sử dụng thuốc kèm theo bộ mã về DRPs và can thiệp của người làm công tác dược lâm sàng. Những năm gần đây, các đề tài nghiên cứu về giải pháp phòng tránh các DRP rất được quan tâm và được thực hiện tại nhiều bệnh viện trên thế giới cũng như tại các bệnh viện của Việt Nam.
Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rõ vai trò của dược sĩ lâm sàng và vai trò của hệ thống hỗ trợ ra quyết định lâm sàng (CDSS) trên phần mềm kê đơn của bệnh viện đã giúp hạn chế được các DRP có ý nghĩa với sự đồng thuận cao của các bác sĩ lâm sàng [7], [8], [9], [10]. Hệ thống hỗ trợ ra quyết định lâm sàng giúp cảnh báo, nhắc nhở hay cung cấp thông tin thuốc ngay tại thời điểm kê đơn đã được chứng minh là một phương pháp hiệu quả để giảm thiểu tối đa các DRP nghiêm trọng, đe doạ tính mạng có thể xảy ra đối với bệnh nhân trong quá trình kê đơn tại các cơ sở khám, chữa bệnh [11], [12], [13]. Nghiên cứu đánh giá tác động của dược sĩ lâm sàng trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến thuốc được thực hiện trong vòng 6 tháng tại Nhật bản năm 2021 cho kết quả phát hiện được 2149 DRP/1711 bệnh nhân tham gia nghiên cứu (1,26 DRP/bệnh nhân), dược sĩ can thiệp vào tất cả các DRP được phát hiện và hầu hết các can thiệp của dược sĩ (99,6%) được đánh giá là “có ý nghĩa”, 1,1% được đánh giá là “cực kì quan trọng” và không có can thiệp nào được cho là “không có ý nghĩa”. Kết quả này cho thấy tác động tích cực đến việc chăm sóc bệnh nhân và sự cần thiết của dược sĩ lâm sàng [14].
Nghiên cứu phát triển và ứng dụng hệ thống hỗ trợ ra quyết định lâm sàng để nâng cao hiệu quả phòng tránh các vấn đề liên quan đến thuốc tại Thụy Sĩ năm 2022 đã cho kết quả phát hiện 700 DRP/909 tín hiệu (77,8%), tương ứng 308/315 bệnh nhân có DRP (97,8%), độ nhạy và độ đặc hiệu trung bình đạt 100,0% (IQR, 100,0%–100,0%) và 1 99,7% (IQR, 97,0%–100,0%). Kết quả này cho thấy các cảnh báo từ hệ thống điện tử có độ nhạy cao cũng như độ đặc hiệu, từ đó có thể góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc xem xét thuốc trong thực hành lâm sàng [15]. Bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An là bệnh viện hạng 1 trực thuộc Sở Y tế Nghệ An. Lưu lượng bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện tương đối lớn và chủ yếu là đối tượng người cao tuổi, bệnh mắc kèm nhiều, có kết hợp nhiều loại thuốc cả thuốc tân dược và y học cổ truyền trong điều trị, do đó làm tăng nguy cơ dẫn đến các DRP.
Bên cạnh đó, bệnh viện chỉ có 01 dược sĩ chuyên trách công tác dược lâm sàng; hoạt động Dược lâm sàng nhằm phòng tránh các DRP tiềm ẩn trong quá trình kê đơn gần như chưa thực hiện được; hàng quý tổ Giám định Bảo hiểm y tế đều đưa ra các chuyên đề về thuốc yêu cầu giải trình và từ chối thanh quyết toán đối với 1 số DRP phát hiện được. Hiện tại, Bệnh viện đang trong giai đoạn hoàn thiện bệnh án điện tử (EMR), tuy nhiên, vẫn chưa triển khai được hệ thống hỗ trợ giúp bác sĩ lâm sàng khi kê đơn để cảnh báo, cung cấp các thông tin về các vấn đề liên quan đến thuốc….Vì vậy, việc kết hợp ứng dụng hệ thống hỗ trợ cho các bác sĩ trước khi ra quyết định lâm sàng về các thông tin thuốc cần thiết trong quá trình kê đơn theo thời gian thực trên phần mềm EMR và vai trò của dược sĩ lâm sàng trong việc xem xét sử dụng thuốc trên thực hành lâm sàng, sau đó phản hồi với các bác sĩ lâm sàng khi phát hiện các DRP là hoạt động vô cùng cần thiết và rất được Ban giám đốc bệnh viện, các bác sĩ lâm sàng tại bệnh viện quan tâm và ủng hộ. Với mong muốn góp phần giảm thiểu các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc trong quá trình kê đơn tại Bệnh viện, nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Triển khai hoạt động dược lâm sàng về quản lý các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (DRPs) thông qua hệ thống hỗ trợ quyết định lâm sàng khi kê đơn trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An” với 2 mục tiêu: 1. Khảo sát thực trạng các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc (DRPs) khi kê đơn trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An từ 01/04/2023 đến 30/06/2023.
Phân tích kết quả của hoạt động dược lâm sàng kết hợp áp dụng hệ thống hỗ trợ ra quyết định lâm sàng trong việc quản lý các DRP trên bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện Y học cổ truyền Nghệ An. Tổng quan về các vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc 1. Khái niệm về vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc Trong các y văn trên thế giới, vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc được trình bày với nhiều thuật ngữ khác nhau như “Drug related problems”, “Drug therapy problems”, “Medication related problems”. Tuy nhiên, thuật ngữ được sử dụng nhiều nhất để mô tả về các vấn đề liên quan đến thuốc là “Drug related problems” hay viết tắt DRP [16].
Theo Hiệp hội chăm sóc dược Châu Âu (2020): “DRP là tình huống liên quan đến điều trị bằng thuốc mà thực sự gây trở ngại hoặc tiềm ẩn mối nguy hại cho sức khỏe người bệnh”. Thuật ngữ DRP thường được xem là tương tự các thuật ngữ “biến cố bất lợi của thuốc” (Adverse drug event, ADE), “phản ứng có hại của thuốc” (Adverse drug reaction, ADR) hay “sai sót trong sử dụng thuốc” (Medication error, ME), đều dẫn đến những tác hại cho bệnh nhân. Các thuật ngữ được so sánh ở Bảng 1. Phân biệt DRP và ADE, ADR, ME Khái niệm Ví dụ Một sự kiện hoặc tình huống liên quan Bệnh nhân xảy ra ADR, ADE, đến điều trị bằng thuốc và thực sự hoặc DRP hoặc ME như các ví dụ bên có khả năng can thiệp vào kết quả điều dưới.
trị mong muốn. Biến cố bất lợi từ việc sử dụng thuốc như Phản ứng dị ứng xảy ra ở bệnh các tổn thương vật lý hay suy giảm chức nhân dị ứng penicillin khi dùng năng cơ thể. ADE có thể do phản ứng có amoxicillin (không thể phòng ADE hại của thuốc (ADR) (không thể phòng ngừa nếu không biết trước và ngừa) hoặc sai sót trong sử dụng thuốc có thể phòng ngừa nếu biết (ME) (có thể phòng ngừa). trước tình trạng dị ứng).
Phản ứng có hại ngoài ý muốn với một Sử dụng kháng sinh gây tiêu chảy. loại thuốc, xảy ra ở liều bình thường để ADR Sử dụng thuốc ức chế men dự phòng, chẩn đoán, điều trị bệnh hoặc chuyển gây ho. điều chỉnh chức năng sinh lý của cơ thể. 3 Khái niệm Ví dụ Metrotrexat dùng hàng ngày thay vì Sai sót trong quá trình kê đơn, cấp phát, hằng tuần, có thể gây hại cho bệnh hoặc dùng thuốc có thể dẫn đến việc sử nhân.
dụng thuốc không phù hợp hoặc gây hại ME Thuốc được kê đơn quá liều, nhưng cho bệnh nhân, trong khi thuốc nằm sai sót đã được can thiệp và điều trong sự kiểm soát của chuyên gia chăm chỉnh liều trước khi sử dụng cho sóc y tế và bệnh nhân. Thuật ngữ DRP là một khái niệm bao quát, được định nghĩa một cách rất rộng và khác nhau giữa các nghiên cứu, bao gồm sai sót liên quan đến thuốc (ME), phản ứng có hại của thuốc (ADR), biến cố bất lợi của thuốc (ADE), quá liều, không tuân thủ điều trị và thất bại điều trị. Mối liên hệ giữa các định nghĩa này được thể hiện trong hình 1. Mối liên hệ giữa các định nghĩa DRP DRPs có thể xảy ra tại bất kỳ thời điểm nào trong quá trình sử dụng thuốc, từ kê đơn thuốc của bác sĩ, cấp phát thuốc của dược sĩ đến thực hiện thuốc của điều dưỡng và sử dụng thuốc, tuân thủ điều trị của người bệnh.
Trong mỗi giai đoạn, DRPs lại được chia thành nhiều loại khác nhau [18]. Các hệ thống phân loại DRP Hệ thống phân loại DRPs đóng một vai trò quan trọng trong các nghiên cứu khoa học về vấn đề liên quan đến sử dụng thuốc. Xây dựng một hệ thống phân loại cụ thể, chi tiết sẽ giúp dược sĩ lâm sàng phát hiện chính xác và đầy đủ các DRP gặp phải trong quá trình thực hành dược lâm sàng. Việc phân loại DRP thật sự cần thiết cho nghiên cứu và thực hành chăm sóc dược, tạo điều kiện để mô tả và đánh giá ý nghĩa lâm sàng và kinh tế của hoạt động dược lâm sàng [19].
Tuy nhiên, đối với mỗi đối tượng nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu riêng sẽ có hệ thống phân loại DRPs khác nhau. Theo kết quả của hai nghiên cứu tổng quan thực hiện năm 2014, hiện nay trong thực hành lâm sàng có khoảng 20 hệ thống phân loại DRPs khác nhau [20], [21]. Một số hệ thống phân loại DRPs trên thế giới được thể hiện qua Bảng 1.