Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề Hiện nay CNTT đang phát triển rộng rãi, nó ảnh hưởng sâu sắc đến hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội, văn hóa, giáo dục, nghiên cứu khoa học,… Trong GD&ĐT, CNTT được tăng cường sử dụng để nâng cao chất lượng dạy học ở tất cả các môn học và hoạt động giáo dục. Vấn đề này đã, đang và sẽ được các nhà giáo dục trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Trên thế giới Nhiều quốc gia quan tâm đến việc ứng dụng CNTT trong giáo dục.
Ở Mỹ những nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong giáo dục được thực hiện từ sớm nên dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và trợ giúp của Chính phủ ngay từ cuối thập niên 90. Tại Nhật Bản, xây dựng chương trình quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972. Các nước đã xây dựng nhiều chương trình quốc gia về tin học hóa. Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khóa để xây dựng và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực, trên toàn thế giới.
Tại Việt Nam Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã quan tâm chỉ đạo 8 việc ứng dụng CNTT trong GD&ĐT nhằm đổi mới quản lý giáo dục, đổi mới PPDH, đổi mới cách học để giáo dục phát triển kịp thời đại công nghệ số, đào tạo công dân thời đại mới. Các hội nghị, hội thảo, văn bản, thông tư về CNTT và giáo dục đều có đề cập đến vấn đề quản lý ứng dụng CNTT trong giáo dục đáp ứng nhu cầu trong tình hình mới: Tháng 12/2015, tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội thảo “Ứng dụng CNTT trong dạy học hỗn hợp đáp ứng yêu cầu chương trình GDPT mới” với sự tham gia của nhiều chuyên gia giáo dục Hoa Kỳ. Ngày 3/2/2018, Trường Đại học Đông Á cùng Hiệp hội cơ sở dữ liệu Hàn Quốc (KDBS), Hiệp hội CNTT và Quản lý quốc tế (IITAMS) tổ chức Hội thảo quốc tế lần thứ 19 về “Ứng dụng CNTT và Quản lý” (ITAM). Ngày 9/12/2020, tại Hà Nội, Bộ GD&ĐT tổ chức Hội thảo “Chuyển đổi số trong GD&ĐT”.
Ngày 21/12/2018 Bộ GD&ĐT ban hành văn bản số 5807/BGDĐT-CNTT về việc hướng dẫn triển khai mô hình ứng dụng CNTT trong trường phổ thông. Ngày 22/12/2018, tại Đà Nẵng, Cục CNTT (Bộ GD&ĐT) tổ chức Hội thảo - tập huấn về “Tăng cường ứng dụng CNTT đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT”. Có nhiều công trình nghiên cứu khoa học quan tâm đến vấn đề ứng dụng CNTT trong dạy học dưới góc độ quản lý. Tiêu biểu như: Trần Lê Duy Khiêm, Thực trạng quản lý việc ứng dụng CNTT vào giảng dạy của hiệu trưởng trường THPT tại Cần Thơ, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, 2010 [17]; Nguyễn Thị Bích Thủy, Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học tại các trường Tiểu học quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn Lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, 2019 [25]; Trần Thị Đàn, Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT vào dạy học trường Tiểu học Yên Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2017 [13]; Lê Thanh Nhân, Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường 9 THPT huyện Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Quy Nhơn, 2019 [22]; Nguyễn Văn Tùng, Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo chương trình GDPT mới ở các trường tiểu học huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm, Đại học Thái Nguyên, 2020 [29]; Trần Bảo Tú, Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học ở các trường tiểu học huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng, 2021 [27].
Các nghiên cứu đều khẳng định ý nghĩa của việc ứng dụng CNTT vào dạy học và quản lý. Tuy nhiên, chưa có đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo chương trình GDPT 2018. Qua các nghiên cứu, tác giả nhận thấy quản lý ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học là một vấn đề cấp thiết nhưng chưa được nghiên cứu cụ thể trong dạy học các môn học; đặc biệt là môn Tiếng Việt theo Chương trình GDPT 2018 chưa nhiều. Các khái niệm chính của đề tài 1.
Quản lý và quản lý giáo dục, quản lý nhà trường a. Quản lý Quản lý là quá trình tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý, nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức. Quản lý có 4 chức năng: Chức năng lập kế hoạch; chức năng tổ chức; chức năng chỉ đạo; chức năng kiểm tra. Quản lý giáo dục QLGD là sự tác động có kế hoạch của chủ thể quản lý đến khách thể và đối tượng quản lý mà chủ yếu nhất là quá trình dạy học và giáo dục ở các cơ sở giáo dục, nhằm huy động các khách thể và đối tượng ấy cùng phối hợp tham gia vào các hoạt động giáo dục để đạt được mục tiêu đã đề ra.
Quản lý nhà trường Quản lý nhà trường là một bộ phận của QLGD. Quản lý nhà trường là hệ thống những tác động khoa học và có tính định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm làm cho nhà trường vận hành theo đúng đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng trong thực tiễn Việt Nam. Người quản lý nhà trường phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận hành chặt chẽ với nhau, đưa đến kết quả mong muốn. Ứng dụng, công nghệ thông tin a.
Ứng dụng Theo từ điển Tiếng Việt: “Ứng dụng là đưa lý thuyết áp dụng vào thực tiễn” [31, tr. b) Công nghệ thông tin: CNTT là thuật ngữ dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lí thông tin. Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “CNTT (tiếng Anh: Information Technology hay IT) là một nhánh ngành kỹ thuật sử dụng máy tính và phần mềm máy tính để chuyển đổi, lưu trữ, bảo vệ, xử lí, truyền tải và thu tập thông tin” [39]. Theo mục 1, điều 4, Luật Công nghệ thông tin số: 67/2006/QH11 ngày 29/6/2006 “CNTT là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [23, tr.
Như vậy, có rất nhiều cách hiểu và định nghĩa về CNTT, hiểu một cách đơn giản, CNTT là việc sử dụng công nghệ hiện đại để tạo ra, xử lý, truyền dẫn thông tin, lưu trữ, khai thác thông tin. Ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học Ứng dụng CNTT trong dạy học là một hướng đi mang tính chiến lược trong quá trình đổi mới giáo dục. CNTT đã đóng góp các công cụ, các phương 11 thức và giải pháp hữu hiệu, hỗ trợ đắc lực cho việc thực hiện đổi mới nội dung, phương pháp dạy học (PPDH). Xét một cách toàn diện, ứng dụng CNTT vừa là công cụ hỗ trợ, vừa là nội dung cũng vừa là phương pháp nhằm đạt được các mục tiêu giáo dục của quá trình dạy học.
Từ nhận thức trên có thể định nghĩa: Ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng các công cụ kỹ thuật hiện đại để tiến hành các hoạt động dạy học ở nhà trường nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn học. Như vậy, có thể hiểu ứng dụng CNTT trong dạy học là việc sử dụng các công cụ kĩ thuật hiện đại, thiết bị CNTT trong việc soạn bài, tổ chức các hoạt động dạy học, kiểm tra đánh giá, hỗ trợ HS học tập nhằm phát huy năng lực của HS trong quá trình học tập môn học nhằm nâng cao chất lượng dạy học, đạt hiệu quả cao nhất nhằm hướng tới đạt mục tiêu dạy học ở trường tiểu học. Quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học Quản lý ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt là tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống của nhà quản lý đến các nguồn lực nhằm khai thác tối đa các nguồn lực bảo đảm cho quá trình ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt đạt hiệu quả tối ưu. Các nguồn lực ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt ở tiểu học: - ĐNGV dạy môn Tiếng Việt và giáo viên phụ trách CNTT trong nhà trường; học sinh.
- Tài chính phục vụ ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt. - CSVC, thiết bị phục vụ ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt. Quản lý hoạt động ứng dụng CNTT trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học nhằm giúp GV sử dụng, khai thác các công cụ CNTT trong soạn bài, tổ chức dạy và học, KT, ĐG đạt hiệu quả cao nhất; giúp HS tự học và tiếp thu kiến thức đáp ứng mục tiêu dạy học Tiếng Việt ở trường tiểu học. Lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học 1.
Khái quát mục tiêu, nội dung môn Tiếng Việt ở trường tiểu học theo Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 a. Mục tiêu - Giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu: yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn; yêu thích cái đẹp, cái thiện và có cảm xúc lành mạnh; có hứng thú học tập, ham thích lao động; thật thà, ngay thẳng trong học tập và đời sống; có ý thức thực hiện trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và môi trường xung quanh.