Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học ở trường đại học Chương 2. Thực trạng quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh Chương 3. Biện pháp quản lý ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học tại trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Nghiên cứu ở nước ngoài Theo Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc UNESCO dự báo: Công nghệ thông tin (CNTT) sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản và toàn diện, có hệ thống và mang tính hội nhập cao vào đầu thế kỉ XXI. Sự bùng nổ và phát triển về công nghệ giáo dục sẽ tạo ra những phương thức giáo dục phi truyền thống, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của nền giáo dục mang tính chuyển đổi sâu sắc vì con người (“dạy học cho mọi người và mỗi người”, “sự gia tăng tri thức và nhu cầu chia sẻ”, “tập trung hóa kiến thức và dịch chuyển năng lực”, “các yếu tố bền vững, truyền thống và sự hội nhập trong không gian giáo dục”…). Quá trình này dẫn đến sự cần thiết phải nhìn nhận lại giá giá trị và ý nghĩa của việc dạy học (giáo dục nói chung) dưới góc độ mối quan hệ giữa sự phát triển của công nghệ và những thay đổi về bản chất của quá trình thực thi các chương trình giáo dục Báo cáo tại Diễn đàn kinh tế thế giới 2016 tại Davos với sự tham gia của hơn 2500 nhân vật ảnh hưởng và quyền lực nhất thế giới đã chia sẻ con số đáng suy ngẫm: 65% số người học vẫn học những thứ liên quan đến nghề nghiệp tương lai mà hiện nay đã không còn tồn tại; 47% nghề nghiệp hiện nay sẽ được chuyển sang tự động hóa trong 2 thập kỉ tới và đến năm 2020, hơn 50% nội dung dạy học trong nhà trường các cấp sẽ không còn hữu dụng trong vòng 5 năm sau đó (Klaus Schwab, 2016).
Tác giả Jeannette Vos - Gorden Dryden (2004), trong cuốn “Cách mạng học tập những yếu tố và phương pháp để học tập tốt” có nói đến vai trò mới của những phương tiện liên lạc điện tử: “Chính sự kết hợp internet, máy tính và cách mạng trang Web, thế giới đang được định hình lại toàn bộ thế hệ, thâm chí còn mạnh mẽ hơn so với trước đây khi báo chí, in ấn, radio và tivi đã tạo ra. Tác giả còn đề cập đến vai trò của máy vi tính đối với giáo viên và học sinh: “Máy vi tính với công nghệ tiên tiến cao có khả nàng phục vụ những người thầy phụ đạo và như những thư viện, cung cấp thông tin và ý kiến phản hồi nhanh chóng cho từng học sinh ”[31]. Tác giả Sukanta Sarkar, khoa Quản lý Trường Đại học ICFAI (Institute of Chartered Financial Analysts of India University, Tripura), Agartala Ấn Độ với bài viết “Vai trò của Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đại học của thế kỷ XXI”, [18, tr.30-41] đã đề cập đến vai trò nối bật của CNTT và truyền thông trong giáo dục đại học ở thế kỷ XXI. Theo tác giả, CNTT và truyền thông đã tác động vào thực tiễn giáo dục, góp phần tăng trưởng đáng kể cho các hoạt động giáo dục đại học.
Sukanta Sarkar xem việc tích hợp CNTT và truyền thông trong giảng dạy và học tập là 6 vấn đề quan trọng trong việc đối mới giáo dục đại học. Công cụ CNTT và truyền thông cần phải được xem như "Một khía cạnh thiết yếu của bộ công cụ văn hóa giảng dạy trong thế kỷ XXI”. Ở các vấn đề trên, tác giả cho thấy dựa trên CNTT và truyền thông đã làm cho các hoạt động đào tạo ở Ấn Độ có nhiều bước tăng trưởng đáng kể. Sayling Wen (Đài Loan) tác giả cuốn “Công nghệ thông tin và nền giáo dục trong tương lai”[7], đã khẳng định rằng nhận thức việc đổi mới giáo dục không còn là một khẩu hiệu, mà là những hành động cụ thể.
Hiện nay cả thế giới đả đi vào công cuộc cải cách giáo dục, với mục tiêu là giáo dục phải trở thành nền tảng căn bản nhất đối với mọi quốc gia trong thế kỳ XXI. CNTT đã tạo ra các biến đổi xã hội một cách sâu sắc, toàn diện, giáo dục cũng không còn nằm ngoài sự tác động của nó. CNTT đả làm thay đôi mạnh mẽ cách thức dạy, học và quản lý. Vì vậy, mọi tố chức cá nhân giáo dục có thể chọn một cách thức hiệu quả nhất đối với công việc cụ thế.
Cuối những năm 70 của thế kỷ XX. một số nước trên thế giới đã ứng dụng CNTT như là một động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế -xã hội. Cùng với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược ứng dụng CNTT, nhất là ở các nước phát triển, mà một bộ phận quan trọng của chiến lược này là xác định cách thức đưa kiến thức tin học vào dạy trong nhà trường. Theo các tư liệu tổng hợp, đặc biệt là của UNESCO, hầu hết các nước đều đưa các kiến thức Tin học, kỹ năng cơ bản của CNTT vào giảng dạy từ cấp trung học cơ sở và phồ biến hơn ở các trường phồ thông với nhiều hình thức tố chức dạy học khác nhau: bắt buộc, tự chọn, tích hợp.
Dù với hình thức nào đi nữa thi các quốc gia này đều nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục công nghệ thông tin cho thế hệ trẻ. Từ những năm 90, vấn đề úng dụng công nghệ thông tin vào dạy học là một chủ đề lớn được UNESCO chính thức dưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI. Ngoài ra, UNESCO còn dự báo: công nghệ thông tin sẽ làm thay đổi nền giáo dục một cách cơ bản vào đầu thế kỉ XXI. Ở Mỹ những nghiên cứu về quán lý ứng dụng CNTT trong giáo dục được thực hiện từ sớm nên dạy và học điện tử đã nhận được sự ủng hộ và trợ giúp của Chính phù ngay từ cuối thập niên 90.
Tại Nhật Bản đã xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000” về việc ứng dụng CNTT để xây dựng một xã hội thông tin đã được công bố từ những năm 1972. Từ năm 1997, Bộ Giáo dục Singapore đã khởi động kế hoạch tổng thể về CNTT trong giáo dục. Với chương trình này, mọi trẻ em của Singapore được đảm bảo cơ hội tiếp cận với môi trường học đường mang đậm màu sắc CNTT. Đến tháng 7 năm 2002, Bộ Giáo dục Singapore đã công bố kế hoạch tổng thể CNTT 2 nhằm kế thừa và phát huy những thành công của kế hoạch CNTT 1, tiếp tục đưa ra những định hướng chung cho các nhà trường trong việc tận dụng những cơ hội CNTT đem lại để phục vụ giảng dạy và học tập.
Do đầu tư phát triển CNTT có kế hoạch nên những quốc gia kể trên đã đạt được thành tựu phát triển kinh tế, xã hội và giáo dục như ngày nay. 7 Ngày nay, vấn đề ứng dụng CNTT trong giáo dục được các nước trên thế giới quan tâm và trở thành một vấn đề toàn cầu, một xu hướng tất yếu trong giáo dục nói riêng và trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. CNTT mang đến sự đổi mới về cách dạy và cách học ở mọi cấp học. Từ đó, các quôc gia đã nghiên cứu vai trò, lợi ích cua CNTT, ứng dụng CNTT trong dạy học, đổi mới phương pháp dạy học và công tác quản lý giáo dục.
Xem CNTT như là công cụ, phương tiện dạy học mới đê nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục. Đặc biệt, với sự ra đời của các phần mềm dạy học đã hỗ trợ hiệu quả cho việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào dạy học các bộ môn. Tác giả Chris Abbott đã nhận định: „TCT is changing the face of education‟1 (dịch nghĩa: Công nghệ thông tin và truyền thông đang thay đổi bộ mặt của giáo dục).1] Hiệu trưởng trường SMA Tarsissius - ông Saverius Kaka đã nhận xét rằng: “Ngày nay CNTT đã và đang phát triền rất nhanh chóng; vì thế toàn bộ hệ thống giáo dục cần được cải cách và CNTT nên được tích hợp vào hoạt động giáo dục”. Hai tác giả Marjolein Drent.
Martina Meelissen University of Twente. Box 217, 7500 AE Enschede, The Netherlands đã có đề tài: Which factors obstruct or stimulate teacher educators to use ICT innovatively (Những nhân tố cản trở hoặc kích thích giảng viên ứng dụng sáng tạo công nghệ thông tin và truyền thông ). Đề tài này trình bài về các yếu tố kích thích hoặc hạn chế việc sử dụng sáng tạo CNTT và truyền thông của những người làm công tác giáo dục tại Hà Lan. Hai tác giả Jon Wiles và Joseph Bondi ở Florida - Hoa Kỳ đã đưa ra những nhận xét trong cuốn sách “Curriculum Development A Guide to Practice” (Xây dựng chương trình học, Hướng dẫn thực hành, bản dịch của tác giả Nguyễn Kim Dung ĐH Sư Phạm.
Hồ Chí Minh) [25]: Đối lập hoàn toàn với kỷ nguyên phát triển chương trình học và giảng dạy truyền thống là thời đại của công nghệ mới trong đó các quy tắc đều thay đổi. Không còn nữa một chương trình học hoàn toàn trong các quy định của nó. Cũng không còn các giáo viên phụ thuộc vào cách truyền tải giảng dạy của mình. Thêm vào đó, mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh cũng thay đổi.
Giáo viên không còn là điểm tiếp cận kiến thức được yêu cầu. Đối lập với “cách cũ”, học sinh bây giờ có nhiều cách tiếp cận không hạn chế (7 ngày 1 tuần và 24 giờ trong 1 ngày) với nguồn thông tin toàn cầu. Công cụ khám phá đã làm cho Internet trở thành một công cụ tuyệt diệu cho học tập. Ở “tốc độ cao không tưởng” người học có thể tiếp cận với hầu hết bất cứ nguồn thông tin nào trên thế giới.
Hội nghị Bộ trưởng giáo dục các nước thành viên của tổ chức diễn đàn hợp tác kinh tế các nước Châu Á -Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 2 ngày 07 tháng 4 năm 2000 về "Giáo dục trong xã hội học tập ở thế kỷ XXI" xác nhận tầm quan trọng của CNTT trong xã hội học tập. Tại diễn đàn này các Bộ trưởng đã khẳng định tiềm năng rộng lớn của CNTT trong việc chuẩn bị tương lai cho học sinh, cũng như cung cấp cơ hội học tiếp cho người lớn tuổi. CNTT mang đến sự đổi mới về cách dạy, cách học cho mọi cấp học.