CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG THCS 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Cuối những năm 70 của thế kỷ XX, việc ứng dụng CNTT như là một động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế - xã hội. Cùng với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT, nhiều quốc gia đã xây dựng chiến lược ứng dụng CNTT, trong đó có việc ứng dụng CNTT trong lĩnh vực GD-ĐT.
Nền kinh tế thế giới đã và đang bước vào giai đoạn nền kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế toàn cầu. Vì vậy việc nâng cao hiệu quả chất lượng GD&ĐT sẽ là yếu tố sống còn, quyết định sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia. Việc áp dụng những công nghệ mới vào giáo dục trong đó có CNTT chính là một trong những giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục. Điều này đặt ra vấn đề cho các nhà quản lý giáo dục là: Làm thế nào để thúc đẩy việc ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học? Chính vì vậy vấn đề nghiên cứu các biện pháp quản lý để thúc đẩy ứng dụng CNTT trong giáo dục đã thực sự phát triển rộng khắp trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
Tác giả Peter Van Gils trong cuốn: CNTT trong giáo dục, (2004) đã nhấn mạnh vai trò của CNTT như một phương tiện trợ giảng, CNTT khuyến khích sự tham gia học tập của HS và góp phần nâng cao thành tích học tập, ngoài ra: “Hơn thế nữa CNTT còn tạo ra một chiều hướng mới, bổ sung vào quá trình học tập suốt đời: con người có thể tự học với sự trợ giúp của một chiếc máy vi tính” [19, tr. Tác giả đưa ra những lý do cần ứng dụng CNTT ở nhà trường hiện đại trong việc tổ chức quản lý, giảng dạy, học tập từ các trường mầm non, tiểu học, trung học đến các trường dạy nghề, trường đại học; đưa ra những kỹ năng với việc ứng dụng lồng ghép CNTT trong dạy học đối với GV, ứng dụng lồng ghép CNTT khi HS sử dụng CNTT trong quá trình học tập và thực hành. Các giả Voogt, Joke, Knezek, Gerald Eds,trong cuốn: “Cẩm nang quốc tế về CNTT trong các trường tiểu học và trường THCS” (2008) được sử dụng làm tài liệu dành cho giáo viên, giảng viên, thủ trưởng các trường, các quản trị viên và điều phối viên CNTT và truyền thông Bộ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Cuốn sách được thiết kết thành những nội dung trang bị cho giáo viên, giảng viên có năng lực và nguồn lực để sử dụng ICT nhằm chuyển đổi thông lệ của nhà trường và hệ thống giáo dục của họ.
Các tác giả rút ra từ thực tiễn tốt nhất và bài học kinh nghiệm trong khu vực về ICT trong giáo dục như: ICT là gì? Những tác động của CNTT đang diễn ra ở trường, về giảng dạy, học hỏi, thế giới việc làm, các loại kỹ năng và phương thức học tập mới mà học sinh cần cho cuộc sống trong thế kỷ XXI. Tài liệu trình bày các mô 8 hình và các khuôn khổ bao gồm những gì mà e-learning đã giúp ta đưa ra các giai đoạn hội nhập ICT và các hệ thống giáo dục đã đạt được; cách thức học tập tổng hợp và kỹ năng tư duy bậc cao, cách thay đổi môi trường học tập; mô tả cách thức hỗ trợ giáo viên trong việc chuyển đổi và cải cách giáo dục [19]. Các tác giả Cher Ping Lim; Ching Sing Chai; Daniel Churchill trong cuốn: Các mô hình ứng dụng CNTT trong giáo dục hiện đại (2010) đã đưa ra bộ công cụ nâng cao năng lực cho các trường đào tạo giáo viên ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời giải thích lý do phải ứng dụng CNTT vào nhà trường sư phạm và thực tế tồn tại hiện nay: “Mặc dù đã có nhiều bằng chứng cho thấy CNTT có tiềm năng lớn trong việc cải thiện chất lượng dạy và học cũng như việc tiếp cận CNTT ngày càng dễ dàng hơn, đa số giáo viên trên thế giới ngày nay vẫn chưa sử dụng công nghệ thành thạo hay thường xuyên để có thể khai thác tiềm năng của nó” [17, tr. Từ đó, các tác giả đưa ra những phương tiện đánh giá từ các bài kiểm tra trình độ được chuẩn hóa đến hồ sơ bài dạy điện tử đã được sử dụng để đánh giá trình độ tích hợp CNTT phục vụ cho giảng dạy của các giáo viên.
Việc đánh giá dựa trên bốn phương diện, đó là: khả năng sử dụng CNTT, thái độ và niềm tin đối với việc sử dụng CNTT, lý luận sư phạm và việc sử dụng CNTT trong thực tế. Trên thế giới, UNESCO chính thức đưa ra thành chương trình hành động trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI và dự đoán “sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT”. CNTT đã ảnh hưởng sâu sắc tới GD-ĐT, đặc biệt là trong đổi mới PPDH đang tạo ra những thay đổi của một cuộc cách mạng giáo dục, vì nhờ có cuộc cách mạng này mà giáo dục đã có thể thực hiện được các tiêu chí mới: Học mọi nơi, mọi lúc, học suốt đời; Dạy cho mọi người và cho mọi trình độ tiếp thu khác nhau; Thay đổi vai trò của người dạy, người học, đổi mới cách dạy và cách học. Theo các tư liệu tổng hợp, đặc biệt là của UNESCO, hầu hết các nước đều đưa các kiến thức tin học, kỹ năng cơ bản của CNTT vào giảng dạy ở trường phổ thông, thể hiện rõ hơn theo nhiều hình thức tổ chức dạy học khác nhau.
Các nước có nền giáo dục phát triển trên thế giới đều chú trọng đến việc ứng dụng CNTT trong dạy học như: Đức, Mỹ, Australia, Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc,. Để ứng dụng CNTT được như ngày nay các nước này đã trải qua rất nhiều các chương trình quốc gia về tin học hoá cũng như ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực khoa học kỹ thuật và trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt là ứng dụng vào khoa học công nghệ và giáo dục. Họ coi đây là vấn đề then chốt của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, là chìa khoá để xây dựng và phát triển CNH, HĐH đất nước, tăng trưởng nền kinh tế để xây dựng và phát triển nền kinh tế tri thức, hội nhập với các nước trong khu vực và trên toàn thế giới. Vì vậy, họ đã thu được những thành tựu rất đáng kể trên các lĩnh vực như: Điện tử, Sinh học, Y tế, Giáo dục,.
- Tin học là một môn học riêng biệt và là môn học bắt buộc, giống như những môn học khác đối với mọi học sinh (ở nhiều bang của Hoa Kỳ, ở Úc. 9 - Tin học cũng là môn học riêng biệt nhưng theo hình thức tự chọn (ở Pháp, Đức, Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc. - Tin học được tích hợp vào trong các môn học khác (ở Pháp và nhiều bang của Hoa Kỳ.) Tại Mỹ, đối với GD-ĐT, sinh viên có thể đi học với SGK điện tử; tại Singapore, năm 1981 thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ: Một là, thực hiện việc tin học hóa mọi công việc hành chính và hoạt động của Chính phủ. Hai là, phối hợp GD&ĐT tin học.
Ba là, phát triển và thúc đẩy công nghiệp dịch vụ tin học. Một Ủy ban máy tính Quốc gia (NCB) được thành lập để chỉ đạo cho công tác đó. Trong Thông điệp Liên bang ngày 25/1/2011, Tổng thống Mỹ Obama cũng nhấn mạnh CNTT là một trong ba ưu tiên hàng đầu sẽ giúp Mỹ năng động hóa nền kinh tế, khôi phục sự phát triển và duy trì vị trí hàng đầu thế giới toàn diện. Ông nêu rõ trong 5 năm tới phải làm cho 98% người dân Mỹ được sử dụng công nghệ không dây thế hệ mới.
"Điều này không đơn thuần là nói về kết nối Internet tốc độ cao hơn hay ít cuộc gọi bị rớt hơn, mà là về việc kết nối mọi miền của nước Mỹ với kỷ nguyên số. Đó là về những người nông dân và doanh nghiệp nhỏ có thể bán hàng của mình trên toàn thế giới. Đó là về những người lính cứu hỏa có thể tải xuống thiết bị cầm tay bản thiết kế ngôi nhà đang cháy; là sinh viên có thể đi học với SGK điện tử; hay người bệnh có thể nói chuyện qua video với bác sỹ của mình" Ở Đức, đầu tư phát triển mạnh cho CNTT, giai đoạn 2006 – 2009 là 1.180 triệu Euro chỉ đứng sau các công nghệ vũ trụ (3.650 triệu Euro) và các công nghệ năng lượng (2. Với chiến lược “Biến động lực thành bánh lái số 1” và mục tiêu hướng tới việc nâng cao và củng cố xếp hạng công nghệ hàng đầu của Đức trong lĩnh vực CNTT.
Chính phủ Đức coi hoạt động CNTT như một động lực tăng trưởng cho các lĩnh vực khác. Sức cạnh tranh của Đức với vai trò là trung tâm của chế tạo và việc làm được đảm bảo và củng cố, đặc biệt là trong lĩnh vực kĩ thuật cơ khí và chế tạo máy, ngành công nghiệp sản xuất ô tô và lĩnh vực viễn thông, thông qua việc sử dụng CNTT. Khu vực CNTT của Đức đang tuyển mộ khoảng 750. Thị trường CNTT trị giá khoảng 134 tỉ Euro (230 tỉ USD) một năm chỉ tính riêng ở Đức và hơn hai tỉ Euro (3,5 tỉ USD) trên toàn thế giới.
Nhật Bản: Xây dựng chương trình Quốc gia có tên: “Kế hoạch một xã hội thông tin - mục tiêu quốc gia đến năm 2000” đã được công bố từ những năm 1972. Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản dành những khoản đầu tư lớn cho lĩnh vực CNTT, đã từng chi 300 triệu USD, để đầu tư cho việc phổ cập tin học trong tất cả các trường học cũng như đầu tư cho hệ thống cơ sở giáo dục. Các trường đào tạo CNTT tại Nhật Bản luôn được đánh giá cao về chất lượng giảng dạy, sự tiện nghi về CSVC, điều kiện học tập và nghiên cứu. Chính phủ Singapore đặc biệt quan tâm tới nền giáo dục, luôn định hướng nhân tài là nguồn tài nguyên lớn nhất của quốc gia.
Là quốc gia nhỏ bé nhưng nền giáo dục 10 tại Singapore có khả năng sánh vai với các quốc gia có nền giáo dục lớn trên thế giới như Anh, Úc, Mỹ … khẳng định đẳng cấp quốc tế trong việc đào tạo nhân lực của mình. Năm 1981 thông qua một đạo luật về Tin học hóa Quốc gia quy định ba nhiệm vụ.