Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG TỰ ĐÁNH GIÁ TRƯỜNG MẦM NON 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu Trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, giáo dục giữ vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần xây dựng một nền kinh tế tri thức. Tuy nhiên, GD&ĐT ở các cấp học đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng CLGD chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng đã đánh giá sâu sắc thực trạng GD nước ta: “Chất lượng giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu phát triển, nhất là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao vẫn còn hạn chế; Chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học lạc hậu, đổi mới chậm; chất lượng giáo dục toàn diện giảm sút, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo còn bất cập. Xu hướng thương mại hóa và sa sút đạo đức trong giáo dục khắc phục còn chậm, hiệu quả thấp, đang trở thành nỗi bức xúc của xã hội”. [9] Thực hiện Luật Giáo dục 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/08/2006 của Chính phủ quy định chi tiết về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật GD; Bộ GD&ĐT đang triển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp GD, tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GV, tăng cường cơ sở vật chất, đẩy mạnh công tác ĐG, KĐCLGD ở các cấp học nhằm nhanh chóng tạo bước chuyển biến lớn về CLGD. Kiểm định chất lượng giáo dục đào tạo là hoạt động đánh giá chất lượng được tiến hành trên hai góc độ bao gồm đánh giá sản phẩm đầu ra của giáo dục và đánh giá hệ thống các điều kiện đảm bảo chất lượng giáo dục.
Theo định nghĩa của Hội đồng Kiểm định chất lượng ĐH Mỹ (CHEA), "Kiểm định là quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài để đánh giá các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 6 http://www.vn trường/chương trình đào tạo nhằm mục đích đảm bảo và cải tiến chất lượng" [dẫn theo 7]. Kiểm định chất lượng là một giải pháp quản lí chất lượng và hiệu quả nhằm mục đích đánh giá hiện trạng, xác định chính xác các điểm mạnh, điểm yếu của các nhà trường theo tiêu chuẩn đề ra, từ đó xây dựng kế hoạch phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu để đảm bảo chất lượng và không ngừng phát triển. Muốn đổi mới và nâng cao CLGD thì trước hết các nhà trường phải TĐG hoạt động chất lượng giáo dục của đơn vị. Để công tác kiểm định chất lượng giáo dục đạt hiệu quả cao, Nhà nước và Bộ GD&ĐT đã xây dựng hệ thống văn bản quy phạm pháp luật.
Hệ thống văn bản giúp các nhà giáo, nhà quản lý và các đối tượng có liên quan hiểu một cách thống nhất các khái niệm, nội dung, quy trình, công cụ đảm bảo và KĐCLGD. Các văn bản đó là những công cụ pháp lý quan trọng để triển khai KĐCLGD tại các nhà trường. Nhà nước ban hành các văn bản quan trọng như: Luật Giáo dục 2005; Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục; Bộ GD&ĐT đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật về công tác KĐCLGD, như: Quyết định số 27/2006/QĐ-BGD&ĐT ngày 27/06/2006 ban hành quy định tạm thời các trường đại học về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/12/2004 của Bộ GD&ĐT; Chỉ thị của Bộ trưởng số 46/2008/CT-BGDĐT ngày 05/8/2008 về việc tăng cường công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; Thông tư số 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên; Thông tư số 25/2014/TT-BGDĐT ngày 07 tháng 8 năm 2014 Quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục trường mầm non. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn Ngoài ra, Cục Khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục đã ban hành các văn bản hướng dẫn về công tác KĐCLGD.
HĐ TĐG và KĐCLGD không chỉ được thể hiện qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản hướng dẫn mà còn nhận được sự quan tâm từ các nhà khoa học, CBQL và GV. Khi bàn về giải pháp thực hiện tốt công tác tự đánh giá, KĐCLGD ở trường trung học, tác giả Phan Vũ Hào trong luận văn thạc sĩ "Quản lý hoạt động tự đánh giá Trường Trung học phổ thông tỉnh Thái Nguyên” đã chỉ ra rằng: “TĐG nhằm làm rõ thực trạng, quy mô và chất lượng, hiệu quả của hoạt động đào tạo của nhà trường. Qua đó giúp nhà quản lý có cái nhìn hoàn chỉnh về nhà trường; xác định và so sánh, tự đánh giá theo các tiêu chuẩn, chuẩn mực kiểm định đã công bố; thúc đẩy xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong; Phân tích làm rõ điểm mạnh, điểm yếu; thời cơ và thách thức của nhà trường. Trên cơ sở đó đề xuất những biện pháp kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.33] Tác giả Trần Đăng Minh trong luận văn thạc sĩ “Biện pháp quản lý hoạt động tự đánh giá tại Trường Trung học phổ thông Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên” cho rằng: “Tự đánh giá là phương pháp, là con đường để tạo động lực cho các nhà trường đảm bảo chất lượng giáo dục của chính mình.
Tự đánh giá không chỉ giúp cho các trường định hướng chất lượng mà còn chỉ rõ con đường để đạt chất lượng đó như thế nào” [21]. Là lãnh đạo phụ trách chuyên môn cấp học mầm non huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, tác giả thấy rõ vị trí, vai trò của việc quản lý hoạt động tự đánh giá trường mầm non là hết sức cần thiết. Đề tài nghiên cứu tại các trường mầm non huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, tác giả là người đầu tiên tập trung nghiên cứu toàn diện quá trình tổ chức quản lý hoạt động tự đánh giá tại các trường mầm non ở huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý và chăm sóc giáo dục trẻ. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.
Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một trong những hoạt động cơ bản nhất của con người xét trên nhiều phạm vi cá nhân, tập đoàn, quốc gia hay nhóm quốc gia. Hoạt động quản lý xuất hiện khi loài người hình thành hoạt động nhóm. Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý luận, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người.
Có nhiều cách tiếp cận và nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Khái niệm quản lý được hiểu theo nhiều cách và dù trải qua nhiều thế hệ nghiên cứu và phát triển quản lý (F.Berg, Paul, Hersey, Kenneth Blanchard, P.) nhưng chưa cách giải thích nào được chấp nhận hoàn toàn. Đa số định nghĩa xuất phát từ quan điểm cục bộ, ví dụ từ quản lý kinh doanh, quản lý tổ chức. Điều đó là khách quan, vì không có khái niệm nào bao quát hết mọi lĩnh vực quản lý mà đều đúng.
Chẳng hạn: Tác giả Paul Hersey và Kent Blanchard cho rằng “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức” [dẫn theo 20]. Theo Từ điển Tiếng Việt - Viện Ngôn ngữ học định nghĩa: “Quản lí và trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định. Là tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [26, tr. Theo Từ điển Giáo dục: “Quản lý là hoạt động hay tác động có định hướng, có chủ định của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [25, tr.
Tác giả Phạm Minh Hạc viết: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể người lao động (nói chung là khách thể quản lý), nhằm thực hiện các mục tiêu dự kiến” [13, tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn Theo tác giả Đặng Quốc Bảo thì “Quản lý là quá trình gây tác động của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung” [1, tr. Các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng tối ưu các chức năng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra” [5, tr. Tóm lại, với những cách tiếp cận khác nhau, các nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm khác nhau về quản lý.
Về cơ bản, các khái niệm có sự thống nhất về sự vận hành hoạt động quản lý (là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đối với khách thể quản lý), về tính hệ thống và các thành tố trong hệ thống (bao gồm: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, công cụ quản lý, phương pháp quản lý, mục tiêu quản lý). Song trong các khái niệm cũng có sự khác nhau: - Quan niệm truyền thống có phần “tuyệt đối hoá” vai trò của chủ thể quản lý; coi hoạt động quản lý là sự tác động mang tính chủ quan, một chiều từ phía chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, còn khách thể quản lý thụ động tiếp nhận sự tác động từ phía chủ thể quản lý. - Quan niệm hiện đại nhấn mạnh đến yếu tố phối hợp trong hoạt động quản lý, có nghĩa là đánh giá vai trò tích cực và tính chủ động của khách thể quản lý trong việc tham gia vào quá trình định hướng và kiểm soát tiến trình tiến tới mục tiêu của bộ máy. Tuy có nhiều cách phát biểu, định nghĩa khác nhau, song có thể hiểu quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng của quản lý nhằm đạt được mục đích nhất định.