CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ XÂY DỰNG 1. Khái niệm, vai trò của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng 1. Khái niệm quản lý nhà nước về trật tự xây dựng. Hiện nay có nhiều cách giải thích về thuật ngữ quản lý.
Có quan niệm quản lý là hành chính, là cai trị. Cách nói này hình chung không có gì khác nhau về nội dung mà chỉ khác nhau về cách dung thuật ngữ, khác về cách diễn giải. Quản lý được hiểu hai góc độ; một là góc độ tổng hợp mang tính chính trị xã hội: góc độ khác mang tính hành động thiết thực. Hai quan niệm này đều có cơ sở khoa học và thực tế.
Nhìn chung quản lý thể hiện việc tổ chức, điều hành tập hợp người, công cụ, phương tiện, tài chính v.v trên cơ sở kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt được mục tiêu định trước. Quản lý ra đời nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong công việc. Mục đích quản lý ở đây là cái đích do chủ thể quản lý đã định trước, đây là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phương pháp và thực hiện các biện pháp tác động quản lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội. Thực tế, nhà nước vì thế mới là nhà nước và bởi vậy khác với các cơ cấu xã hội khác ở chỗ là trong nó quyền lực nhà nước được tập trung và do nó thực hiện trong xã hội - theo quan hệ đối với con người.
Còn quyền lực là mối tương giao, mà trong quá trình của mối tương giao đó, vì những nguyên nhân khác nhau - vật chất, xã hội, trí tuệ, thông tin. - con người tự nguyện (có ý thức) hoặc bị cưỡng bức thừa nhận sự tối thượng của ý chí của những người khác, cũng như của những quy định có tính quy phạm về mục tiêu, về những giá trị khác, và thực hiện các hành vi hoặc hành động này khác, xây dựng cuộc sống của mình phù hợp với những đòi hỏi của chúng. Một quyền lực nào đó tồn tại trong gia đình, trong nhóm người, trong tập thể, nó được gìn giữ 5 luan an trong các truyền thống, tập quán, dư luận xã hội, đạo đức v. Nhưng tất cả điều đó đều không thể so sánh với quyền lực nhà nước, mà trong nguồn gốc nó có tính chế định pháp luật (tính chính thống), còn trong việc thực hiện - nó có sức mạnh của bộ máy nhà nước nắm trong tay các phương tiện cưỡng chế.
- Tính chất đặc thù của quản lý nhà nước là sự phổ biến toàn cộng đồng xã hội, thậm chí vượt ra ngoài giới hạn của nó, lên các cộng đồng xã hội khác của con người trong khuôn khổ chính sách quốc tế do nhà nước thực hiện. - Nhà nước vốn là hiện tượng xã hội phức tạp (theo thành phần các yếu tố) và đa diện (theo các chức năng), và với tư cách là chủ thể quản lý, nó cũng tạo cho quản lý nhà nước tính hệ thống. Đối với quản lý nhà nước, tính chất hệ thống có ý nghĩa nguyên tắc. Chỉ có sự hiện hữu của tính chất này mới tạo cho quản lý nhà nước sự hòa hợp, sự phối hợp, sự trực thuộc cần thiết, tính mục tiêu, tính hợp lý và tính hiệu quả nhất định.
Trong xã hội tồn tại nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể nhân dân.Trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước có những đặc điểm khác biệt sau: - Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp. Với quan niệm của tác giả như vậy về quản lý nhà nước, thì quản lý nhà nước ở đây được hiểu là quản lý theo nghĩa rộng. Trong số các hoạt động của các cơ quan nhà nước để thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, thì việc thực hiện quyền hành pháp của hệ thống hành chính nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng, là hoạt động thường xuyên, liên tục của nhà nước. Trong khoa học luật học Việt Nam thường quan niệm hoạt động quản lý của cơ quan hành chính nhà nước là hoạt động quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp, mà nội dung của nó là thực hiện hoạt động chấp hành, điều hành, hay gọi là quản lý 6 luan an hành chính nhà nước.
Quản lý nhà nước do bộ máy hành chính nhà nước thực hiện rất đa dạng: quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, y tế, giáo dục, an ninh quốc phòng và v. Vì vậy, quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng chỉ là một bộ phận của quản lý nhà nước, do đó quản lý nhà nước về xây dựng có đầy đủ các đặc điểm của hoạt động quản lý, ngoài ra nó còn có những đặc điểm riêng mà chỉ có trong xây dựng, bao gồm: - Hoạt động quản lý xây dựng là một chuỗi các hoạt động từ quản lý quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát thiết kế xây dựng công trình, cấp giấy phép, hoạt động tranh tra, kiểm tra hậu cấp phép (quản lý trật tự xây dựng). - Quản lý trật tự xây dựng dựa trên căn cứ chủ yêu là GPXD và các tiêu chuẩn đã được duyệt. Vai trò của quản lý nhà nước về trật tự xây dựng Trong quản lý nhà nước về trật tự xây dựng pháp luật có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vai trò của pháp luật quản lý xây dựng được thể hiện ở những điểm cơ bản sau: Dể thể chế hoá quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về công tác xây dựngnhà nước xây dựng hệ thống pháp luật.
Đặc biệt chú ý đến cơ chế tổ chức và hoạt động thanh tra xây dựng, đồng thời cũng nhấn mạnh phải kịp thời ban hành các văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác tổ chức và hoạt động của thanh tra xây dựng. Do vậy, pháp luật về quản lý nhà nước về trật tự xây dựng có vai trò quan trọng trong việc thể chế hoá đúng đắn, kịp thời và đầy đủ đường lối, chính sách của Đảng về công tác thanh tra, làm cho nó đi vào cuộc sống. Pháp luật về thanh tra xây dựng là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường tổ chức bộ máy các cơ quan thanh tra xây dựng. Để bộ máy các 7 luan an cơ quan thanh tra xây dựng hoạt động hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng cơ chế quản lý, mô hình tổ chức hợp lý, khoa học, xác định đúng chức năng, thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan thanh tra xây dựng; xác lập Các mối quan hệ đúng đắn, hợp lý giữa cơ quan thanh tra xây dựng và các cơ quan hữu quan; phải có những phương pháp tổ chức và hoạt động phù hợp để tạo ra một cơ chế đồng bộ, đồng thời nâng cao được trách nhiệm của cơ quan thanh tra xây dựng.
Tất cả những điều này chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên cơ sở vững chắc của những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật về thanh tra xây dựng. Tương tự như vậy, pháp luật về thanh tra xây dựng có vai trò quan trọng trong việc quy định nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi loại cán bộ, công chức trong hệ thống các cơ quan thanh tra xây dựng, đặc biệt Thanh tra viên xây dựng; quy định những cơ chế hữu hiệu nhằm phát hiện, loại trừ các hiện tượng lạm quyền, bao biện, vô trách nhiệm. của đội ngũ cán bộ, công chức Các cơ quan thanh tra xây dựng. Pháp luật về quản lý trật tự xây dựng là cơ sở để tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong công tác thanh tra xây dựng.
Thanh tra xây dựng là hoạt động phức tạp, hiệu quả của nó không chỉ được quyết định bởi năng lực, sự cố gắng của cơ quan thanh tra xây dựng mà còn tuỳ thuộc vào sự tham gia của chính quyền địa phương, của các cơ quan nhà nước khác, các tổ chức xã hội và của mọi công dân. Nói Cách khác, công tác thanh tra xây dựng không chỉ là hoạt động chuyên môn thuần tuý của cơ quan thanh tra xây dựng, mà còn là trách nhiệm của Các cấp chính quyền và toàn xã hội. Do vậy, pháp luật về thanh tra xây dựng phải có những quy định cụ thể, chặt chẽ về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng cơ quan hữu quan này với cơ quan thanh tra xây dựng trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ, kế hoạch thanh tra, ví dụ như trách nhiệm của chính quyền địa phương trong việc phối hợp với Các Thanh tra viên xây dựng trong việc tham gia việc 8 luan an cưỡng chế, hỗ trợ lực lượng, phương tiện để cưỡng chế dỡ bỏ các công trình vi phạm. Như vậy, có thể nói pháp luật về quản lý trật tự xây dựng chính là cơ sở để tăng cường cơ chế phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức hữu quan trong công tác thanh tra xây dựng.
- Pháp luật về quản lý trật tự xây dựng là cơ sở pháp lý cho việc phát hiện, xử lý kịp thời, nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật, góp phần tăng cường pháp chế trong lĩnh vực xây dựng. Sự hình thành và phát triển của pháp luật về trật tự xây dựng ở Việt Nam Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng bao gồm nhiều nội dung như: Quản lý cấp GPXD - trật tự xây dựng; quản lý đầu tư xây dựng; quản lý hạ tầng kỹ thuật đô thị - VSMT. Công tác quản lý trật tự xây dựng là khâu quản lý hậu cấp phép chủ yếu là hoạt động của thanh tra xây dựng. Ở mỗi thời kỳ, nhằm phục vụ cho quản lý nhà nước, hoạt động quản lý trật tự xây pháp luật về quản lý trật tự xây dựng có thể thấy một số giai đoạn chính như sau: Nghị định số 126/2004/NĐ-CP ngày 26/5/2004 về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà.
Nghị định này đã quy định cụ thể về những hành vi bị xử phạt hành chính trong hoạt động xây dựng, quản lý công trình hạ tầng đô thị và quản lý sử dụng nhà, mức phạt, thủ tục phạt, chủ thể có thẩm quyền phạt. Nghị định số 46/2005/NĐ- CP ngày 06/4/2005 về tổ chức và hoạt động của Thanh tra xây dựng.