CHƯƠNG 1 - TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TỔNG HỢP VÙNG BỜ 1. Một số quan niệm và khái niệm cơ bản 1. Đới bờ và vùng bờ a) Đới bờ (coastal zone) là một thuật ngữ dùng để chỉ khu vực chuyển tiếp giữa đất và biển, bao gồm 2 phần: dải ven biển (coastal land area) và dải ven bờ (coastal waters).Brown (1997): “Đới bờ là một vùng chuyển tiếp mà ở đó môi trường biển và môi trường lục địa tương tác lẫn nhau và hình thành một môi trường thống nhất”. Đây là một khái niệm được sử dụng khá rộng rãi, đơn giản và phản ánh bản chất của đới bờ [3].L (2003) cho rằng “Đới bờ (hay còn gọi là đới tương tác hiện tại giữa lục địa và biển) là một dải tiếp giáp đất – biển không rộng.
Đới bờ có bản chất độc đáo tạo nên một hợp phần vỏ cảnh quan của Trái đất và là nơi xảy ra tác động tương hỗ phức tạp” [3]. Xét về khía cạnh sinh thái học, đới bờ là hệ chuyển tiếp giữa biển và lục địa, có sự tiếp xúc giữa các quyển: thạch quyển, sinh quyển, thủy quyển, khí quyển của Trái đất và là nơi chứa đựng các hệ sinh thái có năng suất sinh học cao nhất. Trong đới bờ có chứa nhiều hệ tự nhiên cấp nhỏ hơn như: cửa sông, đầm phá, vũng, vịnh nhỏ, các bãi biển, đất ngập triều, đất ngập nước, vùng đất ven biển,… Đây cũng là các hệ sinh thái – nơi cư trú tự nhiên của các loài, nơi cung cấp nguồn lợi thủy sản, nơi phân bố các khoáng sản, vì thế chúng cũng là đối tượng khai thác, sử dụng của các ngành. Các hệ thống bờ (coastal system) như vậy có bản chất tự nhiên, có giá trị tài nguyên và đặc điểm môi trường khác nhau, do đó đòi hỏi phải có những phương thức khai thác, sử dụng, bảo vệ, phát triển và quản lý phù hợp.
Nhìn từ góc độ quản lý, đới bờ là nơi giao kết của ba yếu tố môi trường cơ bản: môi trường biển, môi trường lục địa và môi trường kinh tế - xã hội (hoạt động của con người). b) Vùng bờ (coastal area) là một bộ phận của đới bờ, có những đặc điểm chung của đới bờ và có quy mô và hình dạng bất kỳ tùy thuộc vào mục tiêu và năng lực quản lý cụ thể. 6 Từ những quan niệm trên cho thấy đới bờ và vùng bờ là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương tác giữa lục địa và biển, giữa các hệ thống tự nhiên và hệ nhân văn (tâm điểm là hoạt động của con người), giữa các ngành và những người sử dụng tài nguyên vùng đới bờ theo cả cấu trúc dọc (từ trung ương xuống địa phương) và cấu trúc ngang (các bên liên quan trong cùng địa bàn), giữa cộng đồng dân địa phương với các thành phần kinh tế khác. Vì thế đới bờ còn được gọi là đới tương tác và các hệ sinh thái trong vùng này tồn tại và phát triển thông qua các mối liên kết sinh thái chặt chẽ [3].
c) Ranh giới của đới bờ, vùng bờ Giới hạn về phía đất liền (landward) của đới bờ có thể thay đổi và thường là rìa của các đồng bằng châu thổ hiện đại, ranh giới xâm nhập mặn hoặc đơn vị hành chính ven biển (tỉnh hoặc huyện ven biển). Giới hạn về phía biển (seaward) của đới bờ là mép của thềm lục địa tính từ đường bờ. Trong giới hạn nói trên xảy ra các hoạt động tương tác giữa các quá trình nói trên và đới bờ là thuật ngữ dùng trong trường hợp quản lý ở quy mô lớn (toàn cầu hay toàn quốc gia). Do vùng bờ có quy mô nhỏ hơn đới bờ và được sử dụng cho các mục tiêu quản lý ở quy mô nhỏ, nên giới hạn của vùng bờ được xác định tương đối linh hoạt trên cơ sở nhu cầu quản lý của các chương trình, kế hoạch, đề án hay dự án cụ thể.
Thậm chí, vùng bờ về phía lục địa được xác định chỉ vài trăm mét cho các khu vực bờ biển có vách biển dốc (cliff) đến vài kilômet cho các khu vực có giồng cát mở rộng hay các cửa sông ven biển (Hình 1-1).1: Sơ đồ đới bờ, vùng bờ theo mặt cắt ngang từ lưu vực sông ra biển [11] 1. Quản lý tổng hợp vùng bờ Như trên đã nói, vùng bờ là một hệ tự nhiên quan trọng và trong nó chứa đựng các hệ sinh thái (phụ hệ của đới bờ), nhưng luôn chịu sự tác động của con người thông qua hoạt động phát triển. Cho nên, trong thực tế vùng bờ không còn có các hệ tự nhiên nguyên khai, mà đều là các hệ bị khai thác. Phần lớn các hệ như vậy đan xen với các “hệ nhân sinh” để trở thành hệ thống bờ, gọi tắt là hệ bờ (coastal system), trong đó có các hệ sinh thái bờ (coastal ecosystem).
Chính vì thế, khi quản lý vùng bờ và các hệ bờ thường phải cân nhắc đến hành vi của con người/các ngành để có giải pháp điều chỉnh phù hợp.2: Đới bờ trong quản lý “Nguồn: QLTHĐB, hướng tới phát triển bền vững ở Việt Nam,2008” [11] Về bản chất, tài nguyên bờ thuộc dạng tài nguyên chia sẻ (shared resources), không thể nói thuộc quyền sở hữu duy nhất của ai, của ngành nào, mà là tiền đề phát triển các ngành kinh tế khác nhau, được sử dụng đa mục đích. Vì thế phần lớn các hệ bờ được sử dụng theo cách tiếp cận mở và được quản lý theo ngành trong bối cảnh luôn cạnh tranh và thường mâu thuẫn [3]. Hiện nay việc ra quyết định khai thác, sử dụng cũng như hiểu đúng về bản chất, sự vận động và giá trị của đới bờ/vùng bờ vẫn còn hạn chế không chỉ trong cộng đồng mà còn đối với cả các nhà quản lý. Quản lý vùng bờ không phải là khái niệm mới mà đã được các kỹ sư thủy văn và chuyên gia về vùng ven biển sử dụng từ lâu.
Tuy nhiên, gần đây người ta nhận thấy rằng “quản lý vùng ven biển” mang ý nghĩa là tác động của con người vào vùng này thông qua xây dựng và những biến đổi nhân tạo của các quá trình vật lý xảy ra ở đó, nó không bảo đảm phát triển bền vững vùng này trong tương lai. Cơ chế quản lý vùng ven biển và ven bờ hiện hành còn khá nặng theo ngành và theo lãnh thổ, thiếu các chính sách và luật pháp liên quan đến quản lý vùng bờ đã gây hạn chế trong việc xác định ích lợi từ việc sử dụng hợp lý, thậm chí còn làm mất đi giá trị vốn có của nó và nhiều khi lại có tác động tiêu cực trở lại đối với vùng 9 bờ. Do ranh giới trên biển và đới/vùng bờ chưa được xác định rõ ràng như trên đất liền, không gian biển còn bao gồm bầu không khí bên trên, khối nước biển, các bãi biển, đảo và các nguồn tài nguyên thủy sinh, thường được nhiều ngành, nhiều đối tượng sử dụng, nhưng cơ chế điều phối phù hợp lại chưa được thiết lập. Chính vì vậy, nhu cầu quản lý theo cách tiếp cận tổng hợp đối với vùng/đới bờ đã ra đời.
Thuật ngữ “quản lý tổng hợp đới bờ-QLTHĐB” (intergrated coastal zone management-ICZM) hay “quản lý tổng hợp vùng bờ-QLTHVB” (ICAM) đã được hình thành từ khoảng những năm chín mươi của thế kỷ trước và đến nay được sử dụng với nhiều nghĩa khác nhau. Nhưng đều thống nhất về cơ bản đó là quá trình kết hợp tất cả các khía cạnh quản lý đối với các thành phần vật lý, sinh học và nhân văn của vùng/dải ven biển và ven bờ vào chung một khuôn khổ quản lý. Phương thức quản lý này khắc phục được những yếu điểm trong quản lý đơn ngành (sectoral management) và theo lãnh thổ, nhờ việc giải quyết các bất hợp lý (các kẽ hở và mâu thuẫn) trong sử dụng không gian và tài nguyên vùng/đới bờ giữa các ngành, cơ quan và cộng đồng. Năm 1993, tại Hội nghị thế giới về vùng bờ biển, các bên tham gia đã thống nhất về vai trò của QLTHĐB/VB: “Quản lý tổng hợp đới/vùng bờ được xác định là cách thức phù hợp nhất để đối phó với các vấn đề quản lý vùng ven bờ hiện tại và trong dài hạn như suy thoái môi trường sống, thoái hóa chất lượng nước, biến đổi chu kỳ thủy văn, suy thoái nguồn tài nguyên ven biển, thích ứng với sự tăng lên của mực nước biển, và các ảnh hưởng xấu khác của vấn đề biến đổi khí hậu toàn cầu”.
Khái niệm “tổng hợp” (integration) là khái niệm mấu chốt của lý thuyết QLTHĐB/VB. Tổng hợp được hiểu là sự thống nhất, hợp nhất, liên kết vào một mối chung. Tổng hợp bao hàm nhiều nghĩa, như tổng hợp giữa đất và nước, giữa phát triển và bảo tồn, giữa hệ thống tự nhiên và hệ thống kinh tế - xã hội. Liên quan đến khía cạnh quản lý, tổng hợp là sự kết hợp giữa các cấp quản lý và các bên liên quan khác nhau, ví dụ như ngành thủy sản và du lịch hay thủy sản và phát triển cảng, v.
Theo Biliana Cicin-Sain và Knecht (1995): QLTHĐB/VB được hiểu là một tiến trình liên tục và động, thông qua đó các quyết định sẽ được thực hiện nhằm 10 hướng đến sử dụng bền vững, phát triển và bảo vệ vùng bờ, đại dương và nguồn tài nguyên của chúng. Theo đó, QLTHĐB/VB quan tâm đến tác động qua lại lẫn nhau giữa các lĩnh vực khai thác, sử dụng ở vùng bờ và đại dương với môi trường. Quản lý tổng hợp (QLTH) cũng là một tiến trình được thiết kế để khắc phục những hạn chế mang tính chất manh mún, phiến diện trong phương thức quản lý đơn ngành. Có thể hiểu nội hàm “tổng hợp” trong QLTHĐB/VB cụ thể như sau: - Tổng hợp ngành, nghề: Đây là sự liên kết giữa các ngành, nghề liên quan trong lĩnh vực biển như dầu khí, thủy sản, du lịch biển, bảo tồn biển, hàng hải, v.
Trong thực tế, các ngành này đều dựa vào biển và sử dụng biển để phát triển. Chính vì vậy, việc hoạch định các kế hoạch khai thác, sử dụng biển phải được tính toán, sắp xếp theo hướng hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành, tránh chồng lấn, cản trở hoạt động bình thường của nhau. Ở khía cạnh này, QLTH được thực hiện theo chiều ngang (horizontal integration) giữa các ngành, nghề “bình đẳng” với nhau. Thông thường, đây là một việc làm rất khó, đòi hỏi phải có các kế hoạch và chiến lược quy hoạch dài hơi để làm sao thống nhất được lợi ích của các ngành, nghề khác nhau và hạn chế đến mức thấp nhất những xung đột về lợi ích giữa chúng.