Phần mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, kết cấu của luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. 1 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1.
Cơ sở lý luận về tín dụng chính sách xã hội 1. Khái niệm tín dụng chính sách xã hội Chính sách tín dụng đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác là việc Nhà nƣớc tổ chức huy động các nguồn lực tài chính để cho vay đối với hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách khác nhằm tạo việc làm, cải thiện đời sống, hạn chế tình trạng đói, nghèo. Vì đây là một loại tín dụng mang tính chính sách nên Nhà nƣớc có chính sách ƣu đãi đối với ngƣời vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục vay vốn … Tại Điều 1, Nghị định 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ đã khẳng định: Tín dụng đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nƣớc huy động để cho ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác vay ƣu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chƣơng trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội. Đặc điểm tín dụng chính sách xã hội Từ khái niệm trên có thể thấy, tín dụng chính sách xã hội có những đặc điểm cơ bản sau: Một là, đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận: Mục tiêu của tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chƣơng trình mục tiêu xoá đói giảm nghèo, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội.
1 Hai là, đối tƣợng vay vốn tín dụng chính sách xã hội là ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ. Chính phủ quyết định đối tƣợng vay vốn theo từng chƣơng trình tín dụng. Ba là, nguồn vốn để cho vay đối với ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác là nguồn vốn của Nhà nƣớc, tức là nguồn vốn từ Ngân sách và có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nƣớc. Bốn là, ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách khác khi vay vốn đƣợc ƣu đãi về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (Hầu hết các chƣơng trình cho vay không phải thế chấp tài sản), thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội.
Năm là, Chính phủ hoặc ngƣời đƣợc Chính phủ uỷ quyền quyết định về lãi suất cho vay, điều kiện vay, thù tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách. Sáu là, phƣơng thức cho vay đa dạng: Tổ chức quản lý tín dụng chính sách có thể cho vay trực tiếp đến khách hàng, có thể uỷ thác một phần hoặc toàn phần cho các tổ chức tín dụng khác và có thể uỷ thác một số công đoạn trong quy trình tín dụng cho các tổ chức chính trị - xã hội. Vai trò của tín dụng chính sách xã hội Thứ nhất, tín dụng chính sách xã hội là giải pháp thoát nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Tín dụng chính sách giúp hộ nghèo và đối tƣợng chính sách khác thoát nghèo, tăng thu nhập.
Theo báo cáo về Đói nghèo và Bình đẳng với tựa đề “Từ Chặng đường cuối đến Chặng đường kế tiếp” của Ngân hàng Thế giới (4/2022) đã đƣa ra đánh giá về tiến độ giảm nghèo của Việt Nam thì tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ 16,8% năm 2010 xuống còn 5% năm 2020 với trên 10 triệu ngƣời đƣợc thoát nghèo. Kết quả này có sự đóng góp không nhỏ của tín 1 dụng chính sách, đƣa Việt Nam trở thành một tấm gƣơng sáng trong công cuộc giảm nghèo, cải thiện cuộc sống của ngƣời dân. Tín dụng chính sách giúp hộ nghèo và đối tƣợng chính sách tạo dựng tài sản, cải thiện môi trƣờng và đầu tƣ nhiều hơn cho giáo dục: Khi có thu nhập, ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách có thể dùng nguồn vốn để đầu tƣ mở rộng sản xuất, thuê thêm nhân công, hoặc tích luỹ tiết kiệm. Nhờ nguồn vốn tiết kiệm, ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách sẽ có những kế hoạch định hƣớng cho tƣơng lai, lúc đó họ sẽ có điều kiện để quan tâm đến cải thiện môi trƣờng sống, đầu tƣ cho các dịch vụ y tế, giáo dục … Tín dụng chính sách góp phần đảm bảo hiệu quả xã hội: tín dụng chính sách xã hội đến với ngƣời nghèo và đối tƣợng chính sách ở khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa đã mở ra cánh cửa thay đổi đời sống vật chất, tinh thần cho họ và đƣợc họ đánh giá cao.
Một tầng lớp không nhỏ khi đƣợc nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, đồng nghĩa với việc hiệu quả xã hội đƣợc nâng lên. Thứ hai, tín dụng chính sách góp phần vào sự phát triển kinh tế. Tín dụng chính sách cho vay ƣu đãi hộ nghèo và các đối tƣợng chính sách để sản xuất kinh doanh, cải thiện đời sống. Tín dụng chính sách còn cho vay hộ gia đình và thƣơng nhân hoạt động thƣơng mại tại vùng khó khăn.
Gia đình là tế bào của xã hội, kinh tế hộ gia đình phát triển chắc chắn mang lại kinh tế xã hội phát triển. Do đó, giải quyết chính sách tín dụng đối với các đối tƣợng này góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội. Thứ ba, tín dụng chính sách góp phần ổn định chính trị đất nước. Tín dụng chính sách đƣợc thực hiện là một chính sách hợp ý Đảng, lòng dân, góp phần không nhỏ trong ổn định chính trị.
Ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách vẫn là một tầng lớp chiếm đại đa số trong xã hội mà nếu không đƣợc quan tâm thƣờng dễ bị các thế lực thù địch lợi dụng. Khi tiếp cận 1 đƣợc tín dụng chính sách, ngƣời nghèo và các đối tƣợng chính sách sẽ cảm nhận đƣợc sự quan tâm của Đảng và Chính phủ, chuyên tâm làm ăn, ổn định cuộc sống sẽ góp phần đảm bảo ổn định chính trị. Thứ tư, tín dụng chính sách làm cầu nối và tạo điều kiện phát huy chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức chính trị - xã hội. Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam (gồm: Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh) thống nhất giữa mặt chính trị và xã hội.
Điều này thể hiện sự tập hợp đoàn kết các lực lƣợng quần chúng đông đảo để thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nƣớc. Vốn tín dụng chính sách làm cầu nối để các tổ chức chính trị - xã hội phát huy vai trò của mình đã đƣợc Đảng và Chính phủ giao trong việc gắn kết, kêu gọi các hội viên tham gia vào một hoạt động xã hội bổ ích đó là sử dụng vốn vay hiệu quả, phát huy đƣợc hiệu quả đồng vốn. Trong thực tế, thông qua việc bình xét cho vay vốn, và quá trình thành lập các tổ TK&VV trong hoạt động tín dụng chính sách, các tổ chức chính trị xã hội đã phát huy đƣợc vai trò đoàn thể của mình, giúp đỡ thiết thực để ngƣời nghèo vƣơn lên vƣợt qua đói nghèo, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội. Thứ năm, tín dụng chính sách góp phần tăng cường vai trò quản lý của chính quyền địa phương.
Hoạt động tín dụng chính sách thu hút đƣợc cả hệ thống chính trị vào cuộc. Từ Trung ƣơng đến các địa phƣơng, có Hội đồng quản trị và Ban đại diện Hội đồng quản trị gồm chính quyền, đại diện một số ban ngành tham gia. Theo đó, hoạt động tín dụng chính sách góp phần tăng cƣờng vai trò quản lý của chính quyền địa phƣơng. Thông qua việc tham gia quản lý tín dụng chính sách, 1 chính quyền địa phƣơng phát huy tích cực hơn vai trò quản lý các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa tại địa phƣơng.
Nhìn chung, vai trò tín dụng chính sách xã hội đối với thực hiện mục tiêu giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội, phát triển kinh tế và ổn định chính trị là điều hiển nhiên. Nhƣng nó không bao giờ đƣợc coi là điều kiện đủ. Tín dụng chính sách xã hội chỉ đƣợc coi là một trong rất nhiều điều kiện cần thiết để phân bổ nguồn lực cho sự phát triển kinh tế, đảm bảo ổn định chính trị - xã hội. Cơ sở lý luận về quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội ở cấp huyện 1.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với tín dụng chính sách xã hội Tín dụng chính sách xã hội là một khái niệm đặc thù nên việc quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội cũng mang tính đặc thù. Các nghiên cứu trƣớc đây gần nhƣ chƣa đề cập đến khái niệm quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội mà mới chỉ tập trung làm rõ các nội dung về tín dụng chính sách xã hội. Với phạm vi nghiên cứu của luận văn, có thể hiểu khái niệm Quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội nhƣ sau: Công tác quản lý nhà nƣớc đối với tín dụng chính sách xã hội là một tập hợp các quy trình và phƣơng thức điều hành và quản lý vốn vay nhằm tạo nguồn lực cao nhất; tổ chức cung cấp các dịch vụ tín dụng Ngân hàng đến với những đối tƣợng thụ hƣởng chính sách với chi phí quản lý thấp nhất, kịp thời, thủ tục đơn giản thuận tiện để giúp họ vƣơn lên thoát nghèo, cải thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế khu vực nông nghiệp nông thôn, đồng thời bảo đảm hoạt động tín dụng có tín an toàn và hiệu quả.